URL: http://hocvientoaan.edu.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=265021184&p_details=1
 
Khái niệm án lệ hình sự và mối quan hệ với các loại án lệ khác
28/11/2018-05:06:00 PM
 
 Nguyễn Thanh Mận

      Nguyễn Thanh Mận

Phó Giám đốc Học viện Tòa án

 

Án lệ chính thức được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam là bước ngoặt lớn, đánh dấu sự đột phá trong quá trình cải cách tư pháp. Từ những định hướng về cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng, những quy định của Hiến pháp và pháp luật, TANDTC đã và đang tích cực xây dựng các đề án, triển khai thực hiện một cách khẩn trương, quyết liệt, cho ra đời những án lệ nói chung, án lệ hình sự nói riêng, phục vụ cải cách tư pháp, nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ công lý, hướng tới xây dựng Tòa án thân thiện, gần dân, là chỗ dựa tin cậy của nhân dân và xã hội trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, số lượng án lệ hình sự hiện nay còn quá ít. Nguyên nhân chính là do quá trình xây dựng, quy trình tuyển chọn hiện chưa hợp lý, thiếu các tiêu chí riêng biệt, việc áp dụng cũng chưa quy định rõ ràng, dứt khoát. Nhiều vấn đề, nội dung liên quan đến án lệ hình sự chưa được nghiên cứu, làm rõ. Chẳng hạn như chưa đưa ra được khái niệm án lệ hình sự, bản chất của án lệ hình sự? mối quan hệ giữa án lệ hình sự với các loại án lệ khác? Trong phạm vi bài viết tác giả đưa ra những quan điểm lảm rõ một số nội dung trên và đề xuất sự cần thiết phải ban hành quy định riêng về lựa chọn án lệ hình sự.

1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm của án lệ hình sự

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “án lệ” được hiểu là: “quyết định hoặc bản án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa cấp dưới; tòa phá án cũng phải tôn trọng quyết định trước đó của bản thân mình”[1]

Từ điển Luật học, tái bản lần thứ 4, xuất bản tại Anh quan niệm “án lệ” là: “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự” [2]

Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt thì khái niệm “precedent” hay tiền lệ được hiểu như sau: “Lời phán quyết của Tòa án, thông thường được ghi lại trong tập san án lệ (law report) và sử dụng như một quyền để đưa ra quyết định tương tự trong các vụ án tiếp theo”[3]

Ở Anh án lệ được định nghĩa là “bản án hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó” thì ở Mỹ, án lệ được định nghĩa là “một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý” [4]

Đối với quốc gia thuộc hệ thống thông luật, tuy còn có những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất cho rằng:

“(1) Án lệ là những quyết định (đã được tuyên bởi Tòa án) có quyền uy bởi vì nó được quyết định và giải quyết bởi Thẩm phán, và nó có vị trí trong sự nhận thức thực tiễn pháp luật.

(2) Án lệ không phải là các quy phạm pháp luật nhưng án lệ làm sáng tỏ những câu hỏi về pháp luật. Án lệ đóng vai trò như là phương tiện để Thẩm phán giải quyết vụ việc trong các vụ việc xảy ra sau nó. Những Thẩm phán có thể dựa vào các án lệ trước đây để đưa ra lý do cho quyết định trong vụ việc hiện thời”[5]

Đối với các quốc gia theo truyền thống dân luật, án lệ được hiểu là: Bản án, quyết định của Tòa án đối với một vụ việc cụ thể; Án lệ không được tạo ra ngoài những tình huống, sự kiện có thực của một vụ án; Án lệ chỉ được tạo ra bởi các Tòa án cấp cao trong hệ thống Tòa án; Án lệ của Tòa án tối cao sẽ có giá trị hiệu lực cao nhất và có ảnh hưởng tới mọi tòa cấp dưới; Chỉ những bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất có chứa đựng những giải pháp pháp luật, những câu hỏi phức tạp về pháp luật đã được giải đáp trong một bản án, quyết định Tòa án cụ thể trong một vụ việc cụ thể mới được coi là án lệ. Án lệ được coi là nguồn luật bổ trợ có giá trị tham khảo cho các Thẩm phán áp dụng pháp luật thống nhất. Trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ có hiệu lực thấp hơn. Án lệ có thể bị bãi bỏ bởi luật do cơ quan lập pháp ban hành và có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã ban hành ra án lệ [6]

Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau về “án lệ”, nhưng đều thống nhất ở những điểm sau:

Thứ nhất, án lệ trước hết là bản án, quyết định của Tòa án

Thứ hai, không phải toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đều có giá trị án lệ mà chỉ những bản án, quyết định chứa đựng những vấn đề về giải thích và áp dụng pháp luật từ đó có thể rút ra nguyên tắc chung để áp dụng cho những vụ việc tương tự. Tính tiền lệ này khác nhau ở từng hệ thống pháp luật. Đối với hệ thống pháp luật Civil law thì tiền lệ này chỉ có sự ràng buộc về mặt tâm lý. Còn với các nước theo hệ thống Common law thì tính tiền lệ này có hiệu lực pháp lý bắt buộc. Do đó, Tòa án cấp dưới xét xử vụ việc sau bắt buộc phải áp dụng giải pháp của các Tòa án cấp trên đã xét xử vụ việc trước tương tự. Đặc biệt là bản án, quyết định của Tòa án tối cao trong cùng một hệ thống.

Thứ ba, bản án, quyết định có giá trị án lệ phải là cơ sở cho Tòa án cấp dưới vận dụng khi xét xử các vụ án tương tự về sau. Cơ sở này có thể mang tính chất bắt buộc hoặc mang tính chất tham khảo. Tính tương tự ở đây được hiểu là tương tự nhau về tình tiết, sự kiện cơ bản và tương tự về vấn đề pháp lý.

Hệ thống pháp luật Việt Nam được đánh giá là có nhiều đặc điểm tương đồng với hệ thống pháp luật Civil law. Điều này được thể hiện thông qua quan điểm về việc xây dựng và áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay. Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 đã chính thức thừa nhận án lệ và vai trò của Tòa án trong việc phát triển án lệ. Theo đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán về quy trình lựa chọn, công bố, áp dụng án lệ đã đưa ra khái niệm án lệ như sau.

“Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội động Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.

Khái niệm trên cho thấy, những bản án, quyết định đã có hiệu lực, được lựa chọn thành án lệ để các Tòa án nghiên cứu và áp dụng trong xét xử, không bắt buộc phải tuân theo án lệ trong xét xử. Cũng theo Nghị quyết số 03, án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí sau đây: i) Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; ii) Có tính chuẩn mực; iii) Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau.

Từ việc phân tích các quan niệm về án lệ nêu trên, ALHS được hiểu như sau:

Án lệ hình sự ở Việt Nam là một loại án lệ, được hình thành bởi Tòa án, chứa đựng những lập luận nhằm giải thích, làm rõ hành vi, tình tiết (tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ…) trong bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật, được lựa chọn, công bố theo một trình tự, thủ tục nhất định, có giá trị để áp dụng thống nhất pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án hình sự có tình tiết, sự kiện pháp lý tương tự về sau.

* Bản chất của án lệ hình sự

Khi đề cập đến bản chất của ALHS thì không thể tách rời bản chất của pháp luật (bao gồm luật thành văn tồn tại dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật và án lệ). Xuất phát từ nguồn gốc, bản chất của pháp luật, có thể khẳng định rằng luật thành văn và án lệ nói chung, ALHS nói riêng đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp. Tính giai cấp là thuộc tính không thể thiếu của pháp luật (bao gồm luật thành văn và án lệ). Nhận thức đầy đủ về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xem xét các giá trị của án lệ nói chung, ALHS ở từng hệ thống pháp luật của các quốc gia.

Một là, tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị. Pháp luật là công cụ quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Giai cấp thống trị thể hiện ý chí của mình thông qua việc hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước bằng pháp luật. Điều đó đảm bảo cho thực hiện một cách có hiệu lực, hiệu quả trên thực tế. Như vậy, với ý nghĩa đó pháp luật chính là phương tiện để thực hiện sự thống trị giai cấp hay chuyên chính giai cấp.

Hai là, pháp luật phải do cơ sở kinh tế xã hội quyết định. Sự quy định của cơ sở hạn tầng đối với pháp luật cả về nội dung và hình thức và xu hướng vận động. Trong lịch sử xã hội mỗi kiểu pháp luật tương ứng với nền tảng kinh tế của giai cấp thống trị. Mác cho rằng, pháp luật Tư sản là ý chí của giai cấp tư sản đề lên thành luật. Cái ý chí mà nội dung là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quy định. [7]

Trong xã hội có giai cấp, sự tồn tại khách quan nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau. Một số loại quy phạm của giai cấp khác nhau đã đan xen phát huy giá trị khác nhau như đạo đức, tôn giáo, pháp luật. Tuy nhiên chỉ có hệ thống pháp luật của giai cấp cầm quyền có hiệu lực điều chỉnh một cách chính thống. Thực tế cho thấy không có quy phạm pháp luật của giai cấp khác có thể tồn tại và phát huy hiệu lực nếu không được giai cấp cầm quyền cho phép hoặc thừa nhận. Như vậy, bản thân sự tồn tại của hệ thống pháp luật trên thực tế của một quốc gia cũng phản ánh tính giai cấp sâu sắc [8]

Ba là, tính xã hội, về mặt bản chất pháp luật (luật thành văn và án lệ) do nhà nước đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên nó cố tính xã hội. Bên cạnh việc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị thì pháp luật còn ghi nhận ý chí và bảo vệ lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Hơn nữa, với tính cách là một hiện tượng xã hội, pháp luật phải hàm chứa các giá trị xã hội tích cực, phổ biến thuộc về con người. Tương tự tính giai cấp, xét về bản chất, tính xã hội là thuộc tính chung của pháp luật. Điều đó có nghĩa là ở mỗi kiểu pháp luật khác nhau sẽ hàm chưa tính xã hội và thể hiện những giá trị xã hội khác nhau trên thực tế.

Trên cơ sở lý luận về sự hình thành của pháp luật (bao gồm luật thành văn và án lệ) trong lịch sử xã hội và bản chất của pháp luật. Có thể rút ra một số nội dung sau đây:

Một là, từ những quan điểm trên, cho thấy việc xây dựng pháp luật, ALHS đều xuất phát từ thực tiễn điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một xã hội có sự phân chia giai cấp dẫn đến sự hình thành của nhà nước và pháp luật.

Pháp luật thành văn hay án lệ đều là công cụ của giai cấp thống trị nhằm thực hiện việc quản l nhà nước, đảm bảo lợi ích của giai cấp và quản lí xã hội, điều hòa các mâu thuẫn xã hội.

Hai là, chủ thể ban hành pháp luật (pháp luật thành văn và án lệ) là giai cấp cầm quyền có vai trò quản lí xã hội. Tuy nhiên, pháp luật thành văn được hình thành trên cơ sở ban hành các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước của Thẩm quyền. Tuy thuộc vào điều kiện lịch sử và giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia. ALHS thì được hình thành và thừa nhận trong các quyết định của Tòa án.

Ba là, trong một xã hội có giai cấp có nhà nước thì có thể pháp luật chỉ tồn tại dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ, hoặc chỉ tồn tại dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật. Điều này phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, truyền thống lập pháp…

* Đặc điểm của án lệ hình sự

Một là, chủ thể tạo lập nên ALHS là Tòa án, đặc trưng khác của án lệ nói chung, ALHS nói riêng, đó là án lệ được hình thành từ thực tế trong từng vụ án hình sự cụ thể. Trong quá trình xét xử các vụ án cụ thể, người Thẩm phán với năng lực và sự sáng tạo của mình áp dụng pháp luật để giải quyết những vụ án còn có những hành vi, tình tiết còn có cách hiểu khác nhau từ đó đưa ra quyết định, bản án có thể trở thành ALHS.

Hai là, đặc điểm về nội dung ALHS chứa đựng những lập luận nhằm giải thích rõ những căn cứ pháp lý còn chưa thống nhất trong cách hiểu, những hành vi, tình tiết chưa được làm rõ. Như vậy, ALHS chỉ làm sáng tỏ những quy định về hành vi, tình tiết được quy định trong pháp luật hình sự mà không tạo ra quy định mới về tội phạm, hay sáng tạo ra một tội phạm mới.

Đặc điểm trên cho thấy, ALHS khác với án lệ dân sự. Bởi, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Như vậy, án lệ được xác lập nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong trường hợp nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần áp dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra và khi có những vụ việc dân sự mà vấn đề pháp lý cần được giải quyết chưa được pháp luật quy định hoặc các bên đương sự không có thỏa thuận. Nhưng một nguyên tắc căn bản của lĩnh vực hình sự đó là, chỉ người nào phạm tội được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự và chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Quy định tại Điều 2 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).

ALHS chỉ xuất hiện khi còn có những hành vi, tình tiết được quy định trong pháp luật hình sự còn có cách hiểu khác nhau. Nếu như văn bản quy hình sự chứa đựng những quy phạm pháp luật có tính khái quát cao, nhưng thực tế cuộc sống thường phát sinh nhiều vấn đề cần điều chỉnh thì ALHS lại đề cập đến những trường hợp phạm tội cụ thể đã xảy ra trên thực tế. Do đó, xây dựng án lệ nói chung, ALHS nói riêng là biện pháp nâng cao sự giải thích và áp dụng pháp luật khi các văn bản quy phạm pháp luật chưa rõ ràng và dễ gây nhầm lẫn khi áp dụng vào thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.

Ba là, ALHS phải được lựa chọn theo một trình tự, thủ tục nhất định. Điều đó đảm bảo cho ALHS tính chặt chẽ và đảm bảo chất lượng nhằm khắc phục những hạn chế của luật thành văn và đảm bảo thực hiện trong thực tiễn vì mang tính phổ biến.

Bốn là, ALHS có thể thay đổi theo sự thay đổi của thời gian, điều đó thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của án lệ phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội. Quá trình hình thành và áp dụng ALHS trong thực tiễn có thể giải quyết những vấn đề mà luật thành văn chưa được điều chỉnh. Do đó nó cũng mất đi khi đã có luật thành văn điều chỉnh, hoặc khi nó không còn phù hợp với thực tiễn.

Như vậy, khác biệt lớn nhất giữa án lệ nói chung, ALHS nói riêng ở Việt Nam và các mô hình án lệ khác trên thế giới đó là án lệ Việt Nam không phải là quyết định, bản án gốc, mà được hình thành từ việc lựa chọn và tổng hợp các bản án chung thẩm ở các cấp liên quan đến một vụ việc cụ thể, đặc biệt là các bản án giám đốc thẩm của TANDTC.

2. Vai trò của án lệ hình sự

Thứ nhất, góp phần bổ sung, hoàn thiện quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự.

Án lệ nói chung, ALHS nói riêng có mối quan hệ sâu sắc với pháp luật hình sự. Trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, các Thẩm phán áp dụng pháp luật hình sự để đưa ra những bản án, quyết định nhằm giải quyết vụ án. Nếu bản án, quyết định đó trở thành án lệ và thể hiện được tính đúng đắn, tính phổ biến của sự kiện pháp lý được giải quyết trong bản án thì nó có thể là cơ sở để các nhà làm luật cụ thể hóa thành quy phạm pháp luật.

Thứ hai, góp phần tăng cường việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật khi áp dụng ALHS.

Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho hoạt động xét xử tại Tòa án, bảo đảm giải quyết vụ án hình sự khách quan, chính xác, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nâng cao hiệu quả thực tiễn trong công cuộc cải cách tư pháp, hướng tới mục tiêu tranh tụng dân chủ trước Tòa án.

Thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, hoạt động xét xử của Tòa án đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định. Nguyên nhân của hạn chế trên là do quy định của pháp luật còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện, nhận thức của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng về tầm quan trọng của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trong tố tụng hình sự chưa cao. Kết quả là sự vi phạm quyền bình đẳng của các bên vẫn còn tồn tại, làm giảm chất lượng hoạt động xét xử, vẫn còn oan sai và bỏ lọt tội phạm. Do đó, việc thừa nhận ALHS tạo ra sự nhất quán trong việc áp dụng pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng. Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, đặc biệt Tòa án khi xét xử các vụ án hình sự có sự kiện pháp lý tương tự nhau thì phải giải quyết như nhau. Nếu những vụ án hình sự, người phạm tội có những hành vi, tình tiết giống nhau nhưng lại được giải quyết khác nhau, thì quyền bình đẳng trước pháp luật hình sự có thể bị xâm phạm.

Ngoài ra, ALHS còn góp phần làm tăng tính minh bạch trong hoạt động xét xử của Tòa án. Ở các nước theo hệ thống thông luật, ALHS được đăng tải công khai trên các trang thông tin về án lệ, các nước thuộc hệ thống dân luật của các nước như Pháp, Đức, Nhật… cũng đã tiến hành công bố công khai các bản án và các án lệ của Tòa án cấp tối cao từ hàng trăm năm. Việc hội nhập vào môi trường thương mại quốc tế hàng thế kỷ qua đã làm cho các quốc gia như Đức, Nhật Bản, Pháp duy trì một hệ thống công bố các bản án và án lệ nói chung, ALHS nói riêng như là một hoạt động thể hiện sự đòi hỏi của nguyên tắc minh bạch hóa pháp luật theo yêu cầu của hội nhập quốc tế.

Thứ ba, góp phần cụ thể hóa ý nghĩa của những quy định pháp luật hình sự mang tính trừu tượng thông qua việc giải thích pháp luật hình sự.

Vai trò giải thích pháp luật hình sự được hiểu là làm sáng tỏ về mặt tư tưởng nội dung và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật đảm bảo cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh thống nhất pháp luật hình sự. Hoạt động giải thích pháp luật với tư cách là một hoạt động của Tòa án trong những vụ án hình sự cụ thể. Trong một vụ án hình sự cụ thể có thể tồn tại những vấn đề pháp luật mà trước đó chưa được giải quyết (đặc biệt là trong vụ án hình sự còn có những hành vi, tình tiết còn có cách hiểu khác nhau). Khi xét xử, Thẩm phán đã áp dụng pháp luật và đưa ra hướng giải quyết đúng đắn giải quyết vấn đề đặt ra đối với vụ án hình sự đó. Có thể khẳng định giá trị của ALHS nằm ở phần giải thích pháp luật, một quyết định, bản án hình sự nếu không có sự giải thích pháp luật thì không thể trở thành án lệ được.

Luật không chỉ được xây dựng dưới hình thức những quy định mang tính trừu tượng nhằm điều chỉnh những hiện tượng xã hội đa dạng, mà còn có những quy định pháp luật được giao cho Thẩm phán quyết định về mặt nội dung như phúc lợi công cộng, thuần phong mỹ tục, các trật tự xã hội khác…Thông qua việc giải thích bằng ALHS, ý nghĩa của các quy định pháp luật hình sự mang tính trừu tượng được cụ thể hóa, phạm vi áp dụng quy định của pháp luật, mối quan hệ với các quy định pháp luật khác sẽ trở nên rõ ràng hơn. ALHS là một công cụ hữu hiệu cho hoạt động giải thích pháp luật.

Giá trị giải thích pháp luật của ALHS là ở chỗ đã đề cập đến các vụ án xảy ra trong thực tế, chứ không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những hành vi, tình tiết có thể xảy ra trong tương lai, nên đã góp phần giải thích, bổ sung những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật dễ dàng, thuận lợi và thống nhất.

Thứ tư, thông qua thống nhất giải thích và áp dụng pháp luật, ALHS đảm bảo tính ổn định của pháp luật hình sự.

ALHS góp phần thống nhất việc giải thích và áp dụng luật của Tòa án. Theo đó, Tòa án có thể đối xử một cách bình đẳng đối với đương sự trong vụ án hình sự, giảm thiểu chi phí cũng như nỗ lực của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và Tòa án trong việc giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo tính ổn định của pháp luật.

Thông qua hệ thống ALHS, Thẩm phán có thể tham khảo trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự, nhằm đưa ra những phán quyết chính xác nhất, đúng nhất đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự.

Áp dụng ALHS nhằm tạo ra sự thống nhất áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án các cấp trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiện nay, Tòa án cấp dưới luôn có xu hướng tham khảo những bản án đã được tuyên, đặc biệt là phán quyết của Tòa án cấp trên, căn cứ vào các bản án tiền lệ để đưa ra quyết định cho vụ án cụ thể có nội dung tương tự, đặc biệt là trong giải quyết các vụ án hình sự. Các phán quyết của Tòa án thường hay tham khảo đến các phán quyết có hiệu lực pháp luật đã tuyên trước đó, nhất là các phán quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.

Như vậy, có thể khẳng định ALHS ở nước ta hiện nay không được xem là nguồn luật cơ bản, bởi lẽ ALHS góp phần làm rõ các quy định pháp luật có cách hiểu khác nhau. Do đó, Tòa án có trách nhiệm lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ, còn việc làm luật thuộc về trách nhiệm của Quốc hội. Ở đây có sự khác biệt rất lớn đối với các nước thuộc hệ thống pháp luật common law khi án lệ được xem là nguồn luật cơ bản và bắt buộc áp dụng trong xét xử. Vì vậy, trong hệ thống pháp luật của các quốc gia này, Tòa án, đặc biệt là Thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc xây dựng án và áp dụng án lệ.

3. Mối quan hệ của án lệ hình sự với các loại án lệ khác

            Tòa án nhân dân có nhiệm vụ xét xử các vụ án Hình sự, Dân sự, Hành chính, Kinh doanh thương mại, Lao động, Hôn nhân gia đình và các tranh chấp khác mà pháp luật chưa quy định. Qua quá trình xét xử sẽ hình thành các loại án lệ tương ứng trên, được tuyển chọn, công bố để áp dụng cho những vụ việc tương tự về sau. Thực tế đến nay đã có 26 án lệ được tuyển chọn và công bố. Việc làm rõ mối quan hệ giữa các loại án lệ, đặc biệt là sự khác nhau giữa án lệ hình sự với với các loại án lệ khác có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một quy trình tuyển chọn án lệ hình sự phù hợp với thực tiễn.

            Trước hết, có thể khẳng định các loại án lệ có sự khác nhau cơ bản đó là dựa trên pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng là khác nhau (Bộ luật hình sự - Bộ luật tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Kinh Doanh thương mại, Lao động, Bộ l uật tố tụng Dân sự, Hành chính – Luật tố tụng Hành chính). Có thể chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa một số loại án lệ:

            Thứ nhất, mối quan hệ giữa án lệ hình sự với án lệ hành chính

            * Điểm giống giữa án lệ hình sự và án lệ hành chính

Nếu án lệ hình sự là sự lập luận, giải thích các quy định của BLHS, Bộ luật tố tụng hình sự tạo ra cách hiểu thống nhất để áp dụng. Tức là trên cơ sở quy định của luật thành văn đã có, thì án lệ hành chính cũng như vậy. Án lệ hành chính cũng là lập luận, giải thích để áp dụng các quy định của hệ thống pháp luật về quản lý hành chính Nhà nước. Bởi việc xét xử các vụ án hành chính là sự đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện. Các quyết định hành chính, hành vi hành chính đó của người có thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động quản lý nhà nước căn cứ quy định của pháp luật để ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính.

            * Sự khác nhau của án lệ hình sự và án lệ hành chính

            Một là, xét xử theo luật tố tụng riêng. Đối với vụ án vụ án hình sự thì theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, còn đối với vụ án hành chính thì theo trình tự thủ tục của Luật tố tụng hành chính.

            Hai là, nguyên tắc bắt buộc áp dụng án lệ trong xét xử trong Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tố tụng hành chính đang được quy định khác nhau. Luật tố tụng hành chính quy định có tính bắt buộc áp dụng án lệ khi xét xử, còn Bộ luật tố tụng hình sự thì không quy định bắt buộc.

            Tại khoản 3, Điều 191, Luật tố tụng hành chính có quy định: “ Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây”. Như vậy, trong luật tố tụng hành chính quy định có tính bắt buộc nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính, nếu có.

Trong khi đó tại khoản 2 và 3 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự thì lại không quy định bắt buộc nghiên cứu và áp dụng án lệ hình sự. Theo quy định tại Điểm d Khoản 2, Điều 260 “ Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo Điểm, Khoản, Điều nào của BLHS và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;” và Điểm b Khoản 3 Điều 260 là “Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của BLHS và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án;”. Mặc dù án lệ hình sự đã và đang tồn tại và ngày càng tăng về số lượng công bố.

Thứ hai, mối quan hệ giữa án lệ hình sự với án lệ dân sự

Đây là hai loại án lệ có nhiều nội dung khác biệt rất lớn đó là:

Một là, nếu án lệ hình sự có nội dung là những lập luận, giải thích dựa trên quy định của pháp luật thực định còn có cách hiểu khác nhau. Thì án lệ dân sự vừa có những lập luận giải thích những những quy định của pháp luật thực định; không có pháp luật thực định (theo quy định tại Điều 4, Điều 6, BLDS 2015 và Khoản 2, Điều 3, Khoản 14, Điều 26 BLTTDS 2015).

Hai là, việc áp dụng án lệ được tiến hành giải quyết bằng hai Bộ luật tố tụng khác nhau. Đối với vụ án hình sự là Bộ luật tố tụng hình sự, đối với vụ việc dân sự thì theo trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Còn đối với người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng tham gia giải quyết vụ án là khác nhau. Vụ án hình sự không thể thiếu Điều tra viên, Cơ quan điều tra…trong vụ án Dân sự thì không có thành phần này (đặc điểm này đề ra yêu cầu khi tuyển chọn án lệ hình sự phải có ý kiến của Bộ Công an)

Ba là, sự khác nhau về nguyên tắc bắt buộc nghiên cứu, áp dụng án lệ trong xét xử. Nếu như Bộ luật tố tụng hình sự không quy định việc nghiên cứu, áp dụng án lệ hình sự như phân tích tại Điều 260, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như phân tích ở trên, thì tại Khoản 2, Điều 264 và Khoản 2, Điều 266 và Khoản 4, Điều 313, Bộ luật tố tụng dân sự đều quy định nguyên tắc áp dụng án lệ Dân sự khi xét xử (Điều 264 về nghị án, Điều 266 về bản án sơ thẩm, Điều 313 về bản án phúc thẩm).

Thứ ba, Mối quan hệ giữa án lệ hình sự với các loại án lệ Lao động, Kinh doanh thương mại, Hôn nhân gia đình cũng tương tự như sự giống và khác nhau giữa án lệ hình sự với án lệ dân sự.

Tóm lại, sự phân tích, so sánh làm rõ sự khác biệt giữa án lệ hình sự với các loại án lệ khác (Hành chính, Dân sự, Kinh doanh thương mại, Lao động, Hôn nhân gia đình) có ý nghĩa quan trong cho việc xác định các tiêu chí để tuyển chọn án lệ hình sự phù hợp với thực tiễn nhằm phát huy hiệu quả của việc xây dựng và áp dụng án lệ hình sự. Từ đó có cơ sở đề xuất quy trình tuyển chọn và áp dụng án lệ hình sự riêng.

 



[1] Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Tập 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà nội

[2] Từ điển luật học (1993), Tái bản lần 4, in và xuất bản tại Anh, trang 293.

[3] Từ điển pháp luật Anh - Việt (1998), Nxb Thế giới

[4] Bryan A, Garner (2004), Black's Law Dictionary, 9th edition, West Group, p.1059

[5] Nguyễn Văn Nam (2012), Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

[6] Trương Hòa Bình (Chủ nhiệm, 2012), Triển khai án lệ vào công tác xét xử của Tòa án Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Tòa án nhân dân tối cao

[7] C.Mác – Ăng ghen, Tuyển tập, tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.262-263

[8] Đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr. 95

 


In Trang | Đóng cửa sổ