Nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên Học viện Tòa án đáp ứng yêu cầu theo chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo lĩnh vực Pháp luật trình độ đại học
ThS
ThS. Nguyễn Thị Huyền
Học viện Tòa án
Tóm tắt
Trong xu thế đổi mới giáo dục đại học theo định hướng phát triển năng lực và đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đào tạo theo chuẩn đầu ra đã trở thành một trong
những định hướng chủ đạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Đối
với Học viện Tòa án, mục tiêu đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến
thức chuyên môn mà còn hướng đến hình thành năng lực nghề nghiệp, tư duy pháp
lý, khả năng học tập suốt đời và thích ứng với môi trường tư pháp hiện đại. Để
đạt được các mục tiêu đó, kỹ năng tự học của sinh viên giữ vai trò đặc biệt quan
trọng, giúp người học chủ động tiếp cận tri thức, cập nhật quy định pháp luật,
rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và phát triển năng lực tự chủ.
Bài viết phân tích vai trò của kỹ năng tự học trong đào tạo cử nhân Luật tại Học
viện Tòa án, làm rõ mối quan hệ giữa kỹ năng tự học với các chuẩn đầu ra của
chương trình đào tạo lĩnh vực pháp luật trình độ đại học theo Quyết định
678/QĐ-BDGĐT ngày 14/3/2025 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo, đồng thời tạo
cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao
chất lượng tự học của sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa:
Học viện Tòa án; sinh viên; chuẩn đầu ra; kỹ năng tự học; đào tạo cử nhân luật.
1. Đặt vấn đề
Đổi mới giáo dục đại học theo định hướng phát triển năng lực người học là xu
hướng tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự phát triển nhanh
chóng của khoa học, công nghệ. Đối với lĩnh vực đào tạo pháp luật, yêu cầu này
càng trở nên cấp thiết khi hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, cùng
với sự phát triển của án lệ, thực tiễn xét xử và các phương thức giải quyết
tranh chấp mới. Điều đó đặt ra yêu cầu người học không chỉ nắm vững kiến thức
được truyền đạt trên giảng đường mà còn phải có khả năng tự nghiên cứu, tự cập
nhật và tự hoàn thiện kiến thức trong suốt quá trình học tập cũng như hành nghề.
Học viện Tòa án là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc
dân trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao
có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống Tòa án
nhân dân và các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực pháp luật. Chương
trình đào tạo cử nhân Luật của Học viện được xây dựng theo định hướng phát triển
phẩm chất và năng lực, lấy chuẩn đầu ra làm căn cứ để thiết kế chương trình, nội
dung đào tạo và phương pháp giảng dạy. Theo đó, sinh viên sau khi tốt nghiệp
không chỉ nắm được hệ thống kiến thức pháp lý toàn diện mà còn phải hình thành
kỹ năng giải quyết vấn đề pháp lý, tư duy phản biện, khả năng sử dụng công nghệ
số, tinh thần học tập suốt đời và ý thức trách nhiệm nghề nghiệp.
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cử nhân Luật đặt ra các yêu cầu về năng
lực học tập độc lập, tự định hướng, khai thác hiệu quả công nghệ số và cơ sở dữ
liệu pháp luật, cập nhật tri thức mới, cùng với trách nhiệm nghề nghiệp và khả
năng thích ứng. Những yêu cầu này cho thấy kỹ năng tự học là một năng lực cốt
lõi, góp phần quyết định việc đáp ứng chuẩn đầu ra và nâng cao năng lực hành
nghề của sinh viên. Thực tiễn đào tạo tại Học viện Tòa án cho thấy, bên cạnh
nhiều sinh viên có ý thức và tinh thần học tập tích cực, vẫn còn một bộ phận
chưa hình thành được kỹ năng và phương pháp tự học hiệu quả. Nhiều sinh viên còn
phụ thuộc vào hoạt động giảng dạy trên lớp, chưa chủ động khai thác học liệu số,
cơ sở dữ liệu pháp luật và ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo một cách phù hợp
trong quá trình học tập. Những hạn chế này có thể ảnh hưởng đến việc đáp ứng
chuẩn đầu ra cũng như sự phát triển năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục đại học, yêu cầu cải cách tư pháp và định
hướng phát triển của Học viện Tòa án, việc nghiên cứu nâng cao kỹ năng tự học
của sinh viên có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ góp
phần làm rõ vai trò của kỹ năng tự học trong quá trình đào tạo, đồng thời đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân Luật, đáp ứng yêu
cầu phát triển nguồn nhân lực tư pháp trong giai đoạn mới.
2. Khái quát về kỹ năng tự học và yêu cầu đào tạo theo chuẩn đầu ra
2.1. Khái niệm kỹ năng tự học
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về tự học. Theo từ điển Giáo dục học
định nghĩa tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và
rèn luyện kĩ năng thực hành (Bùi Hiền, 2001).
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực
trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có khi cả cơ bắp (khi
phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình,.ồi cả động cơ, tình cảm, cả
nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không
ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khó học, ý muốn thi đỗ, biến
khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân
loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Tác giả Nguyễn Kỳ: Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri
thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt
mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết
các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp... Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc
học.
Có thể thấy, các quan điểm về khái niệm tự học của các nhà nghiên cứu có thể
khác nhau nhưng tựu trung lại đều khẳng định tự học là tự mình quản lý việc học
tập, lĩnh hội tri thức của bản thân. Người học tự vạch ra kế hoạch học tập cho
chính mình, kiên trì và nhẫn nại thực hiện kế hoạch đó một cách bài bản, sau đó
người học tự kiểm tra đánh giá kết quả đã đạt được, rút kinh nghiệm cho bản thân
mình. Khác với cách học thụ động chỉ tiếp nhận kiến thức từ người dạy, tự học
đòi hỏi người học phải xác định mục tiêu học tập, lựa chọn phương pháp phù hợp,
tìm kiếm và khai thác tài liệu, tự đánh giá kết quả học tập cũng như điều chỉnh
quá trình học để đạt được mục tiêu đề ra.
Trong giáo dục đại học, kỹ năng tự học được xem là một trong những năng lực cốt
lõi của người học. Kỹ năng này bao gồm khả năng lập kế hoạch học tập, quản lý
thời gian, tìm kiếm và xử lý thông tin, đọc hiểu tài liệu chuyên ngành, tư duy
phản biện, tự đánh giá kết quả học tập và chủ động cập nhật tri thức mới. Đối
với sinh viên ngành Luật, kỹ năng tự học còn gắn với khả năng tự nghiên cứu văn
bản quy phạm pháp luật, phân tích án lệ, khai thác hồ sơ vụ án và vận dụng kiến
thức pháp lý vào giải quyết các tình huống thực tiễn.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, nội hàm của kỹ năng tự học tiếp tục được mở rộng.
Sinh viên không chỉ học từ giáo trình và bài giảng truyền thống mà còn phải biết
khai thác thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu pháp luật, các nguồn học liệu mở và
công cụ số để hỗ trợ học tập. Đồng thời, việc sử dụng các ứng dụng trí tuệ nhân
tạo cần đi đôi với khả năng kiểm chứng thông tin, tư duy phản biện và tuân thủ
các nguyên tắc liêm chính học thuật. Vì vậy, kỹ năng tự học hiện nay là sự kết
hợp giữa năng lực học tập độc lập, năng lực số và ý thức học tập suốt đời.
2.2. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo lĩnh vực pháp luật trình độ đại học
của Học viện Tòa án
2.2.1. Về Kiến thức
Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân ngành Luật của Học viện Toà án
sẽ hiểu và vận dụng được các khối kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức ngành,
kiến thức chuyên ngành như sau:
PLO1:
Vận dụng được kiến thức cơ bản về chính trị, xã hội, lịch sử, văn hóa, triết
học, phương pháp nghiên cứu khoa học, quyền con người, tư duy pháp lý và đạo đức
nghề luật để nhận diện, giải thích các vấn đề pháp lý cơ bản trong học tập và
thực hành nghề luật.
PLO2: Phân tích được các học thuyết chính trị - pháp lý, nguyên lý pháp luật,
quy định pháp luật, án lệ và thực tiễn pháp lý để xác định vấn đề pháp lý, quan
hệ pháp luật và cơ sở pháp lý cần áp dụng trong từng tình huống cụ thể.
PLO3: Vận dụng được kiến thức nền tảng của các ngành luật như luật hiến pháp,
luật hành chính, luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật hình sự, luật tố tụng
hình sự và các lĩnh vực pháp luật có liên quan để giải quyết các tình huống pháp
lý trong hoạt động nghề luật
PlO4: Đánh giá được căn cứ pháp lý, chứng cứ, trình tự, thủ tục và phương án xử
lý trong các vụ việc hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao
động, hôn nhân và gia đình; từ đó đề xuất phương án giải quyết phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của Tòa án và yêu cầu thực hành nghề luật, giải quyết được những
vấn đề phức tạp mà thực tiễn đòi hỏi.
2.2.2. Về kỹ năng
Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân ngành Luật của Học viện Tòa án
sẽ đạt được các kỹ năng sau đây:
PLO5: Giải quyết được các vấn đề pháp lý thực tiễn thông qua việc lựa chọn, lập
luận và bảo vệ giải pháp chuyên môn phù hợp; có khả năng vận dụng kiến thức pháp
luật để tạo lập cơ hội nghề nghiệp cho bản thân và hỗ trợ tạo việc làm cho người
khác.
PLO6: Phản biện được các quan điểm pháp lý khác nhau trong quá trình hành nghề
luật và hoạt động của Tòa án; đề xuất được giải pháp thay thế phù hợp trong điều
kiện pháp luật, xã hội hoặc môi trường nghề nghiệp thay đổi.
PLO7:
Tổ chức được việc học tập và làm việc độc lập hoặc theo nhóm; lựa chọn được
phương án chuyên môn phù hợp để xử lý tình huống pháp lý trên cơ sở tự định
hướng, tự chịu trách nhiệm và tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp.
PLO8: Sử dụng được ngoại ngữ đạt trình độ bậc 3/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ
dùng cho Việt Nam hoặc tương đương để đọc hiểu tài liệu pháp lý cơ bản, giao
tiếp, trình bày và trao đổi thông tin phục vụ học tập, nghiên cứu và công tác
chuyên môn.
PLO9: Khai thác, xử lý và sử dụng được công nghệ số, cơ sở dữ liệu pháp luật,
phần mềm quản lý hồ sơ, văn bản và quy trình nghiệp vụ tư pháp; cập nhật được
tri thức pháp luật mới nhằm phục vụ học tập suốt đời và thích ứng với chuyển đổi
số trong lĩnh vực tư pháp.
- Tra cứu, khai thác và xử lý dữ liệu pháp luật trên các nền tảng số;
- Ứng dụng phần mềm quản lý hồ sơ, văn bản và quy trình nghiệp vụ tư pháp;
- Giao tiếp, làm việc và phối hợp chuyên môn trong môi trường số, hiểu biết và
thực hiện các kỹ năng nghề nghiệp liên quan đến Tòa án điện tử, quản lý án toàn
trình và những ứng dụng tin học khác gắn với hoạt động tư pháp và thực hành nghề
luật.
2.2.3. Về thái độ/mức độ tự chủ và trách nhiệm của người học
Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân ngành Luật của Học viện Tòa
án:
PLO10: Thể hiện được bản lĩnh chính trị, tinh thần thượng tôn pháp luật, đạo đức
nghề luật, ý thức bảo vệ công lý, quyền con người, lợi ích quốc gia, dân tộc; có
thái độ trung thực, liêm chính, cẩn trọng, cầu thị, trách nhiệm và ý thức phục
vụ Nhân dân.
PLO11: Thực hiện được trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm với nhóm trong hoạt
động học tập, nghiên cứu và nghề nghiệp; hướng dẫn, giám sát được người khác
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn phù hợp; thích ứng được với yêu cầu cải cách tư
pháp, hội nhập quốc tế và sự thay đổi của môi trường nghề luật.
2.3. Mối quan hệ giữa kỹ năng tự học và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo
Đào tạo theo chuẩn đầu ra là phương thức tổ chức quá trình giáo dục theo hướng
xác định rõ những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất mà người học cần đạt được sau
khi hoàn thành chương trình đào tạo. Trong chương trình đào tạo cử nhân Luật của
Học viện Tòa án, các chuẩn đầu ra được xây dựng theo ba nhóm: kiến thức, kỹ năng
và mức độ tự chủ, trách nhiệm.
Kỹ năng tự học có mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện các chuẩn đầu ra của
chương trình. Trước hết, để đạt các chuẩn đầu ra về kiến thức (PLO1–PLO4), sinh
viên cần chủ động nghiên cứu giáo trình, văn bản pháp luật, án lệ và các tài
liệu chuyên ngành nhằm mở rộng và cập nhật tri thức ngoài phạm vi bài giảng. Quá
trình tự học giúp người học hình thành tư duy pháp lý, khả năng phân tích và vận
dụng pháp luật vào các tình huống cụ thể.
Đối với nhóm chuẩn đầu ra về kỹ năng, PLO7 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi
yêu cầu sinh viên tổ chức được việc học tập v làm việc độc lập hoặc theo nhóm,
lựa chọn phương án chuyên môn phù hợp trên cơ sở tự định hướng và tự chịu trách
nhiệm. Đây là biểu hiện trực tiếp của năng lực tự học và cũng là mục tiêu mà
chương trình đào tạo hướng tới. Bên cạnh đó, PLO9 yêu cầu sinh viên khai thác và
sử dụng hiệu quả công nghệ số, cơ sở dữ liệu pháp luật và các phần mềm phục vụ
hoạt động tư pháp. Điều này đòi hỏi người học phải có khả năng tự tìm kiếm, chọn
lọc, đánh giá và vận dụng thông tin trong môi trường số.
Ở nhóm chuẩn đầu ra về mức độ tự chủ và trách nhiệm, PLO10 và PLO11 nhấn mạnh
yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, khả năng thích ứng với sự
thay đổi và học tập suốt đời. Những phẩm chất này không thể hình thành chỉ thông
qua hoạt động giảng dạy trên lớp mà cần được bồi dưỡng thông qua quá trình tự
học, tự rèn luyện và tự hoàn thiện của mỗi sinh viên.
Tự học của sinh viên có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đạt được các chuẩn đầu
ra của chương trình đào tạo cử nhân Luật.
Đối với PLO7, yêu cầu sinh viên tổ chức được việc học tập độc lập hoặc theo nhóm
và tự chịu trách nhiệm trong quá trình học tập chỉ có thể được thực hiện khi
người học biết lập kế hoạch, quản lý thời gian, lựa chọn phương pháp học phù hợp
và chủ động giải quyết những khó khăn phát sinh. Những hạn chế về tính chủ động
và phương pháp học tập hiện nay cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa yêu cầu của
chuẩn đầu ra và năng lực thực tế của một bộ phận sinh viên.
Đối với PLO9, yêu cầu khai thác công nghệ số và cơ sở dữ liệu pháp luật đòi hỏi
sinh viên phải có năng lực số và kỹ năng tự học trong môi trường trực tuyến. Tuy
nhiên, việc khai thác học liệu số, sử dụng cơ sở dữ liệu pháp luật và ứng dụng
trí tuệ nhân tạo vẫn chưa thực sự hiệu quả, làm giảm khả năng cập nhật kiến thức
và thích ứng với quá trình chuyển đổi số của ngành Tòa án.
Đối với PLO10 và PLO11, kỹ năng tự học còn gắn liền với việc hình thành ý thức
trách nhiệm, tính trung thực, đạo đức nghề nghiệp và năng lực học tập suốt đời.
Khi sinh viên biết tự nghiên cứu, tự kiểm chứng thông tin và tự chịu trách nhiệm
về kết quả học tập, họ sẽ từng bước hình thành bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần
liêm chính và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường pháp lý.
Như vậy, kỹ năng tự học vừa là phương tiện để người học đạt được các chuẩn đầu
ra, vừa là kết quả quan trọng của quá trình đào tạo theo định hướng phát triển
năng lực. Việc nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên Học viện Tòa án vì thế
không chỉ góp phần nâng cao chất lượng học tập mà còn bảo đảm thực hiện hiệu quả
mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực pháp luật có trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề
nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện
nay.
3. Một số giải pháp nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên Học viện Tòa án đáp
ứng yêu cầu đào tạo theo chuẩn đầu ra
Kỹ năng tự học là một trong những năng lực cốt lõi, có ý nghĩa quyết định đối
với quá trình học tập, rèn luyện và phát triển nghề nghiệp của sinh viên
trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay.
Việc đề xuất các giải pháp không chỉ hướng tới cải thiện kết quả học tập trước
mắt mà còn góp phần giúp sinh viên đạt được các chuẩn đầu ra của chương trình
đào tạo, đặc biệt là các chuẩn đầu ra về kỹ năng nghề nghiệp, năng lực số, tự
chủ và trách nhiệm.
3.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy năng lực tự học của sinh
viên
Đổi mới phương pháp giảng dạy là giải pháp quan trọng nhằm chuyển từ mô hình
truyền thụ kiến thức sang mô hình phát triển năng lực người học. Trong quá trình
giảng dạy, giảng viên cần giảm dần phương pháp truyền đạt một chiều, tăng cường
các hoạt động yêu cầu sinh viên chủ động nghiên cứu, trao đổi và giải quyết vấn
đề. Phương pháp giảng dạy phù hợp với mục tiêu, nội dung và chuẩn đầu ra của học
phần; tích hợp kiến thức lí thuyết, thực tiễn và kỹ năng, tăng cường tính thực
tiễn, định hướng hiệu quả để người học đạt được mục tiêu, chuẩn đầu ra của học
phần.
Đối với các học phần chuyên ngành luật, cần đẩy mạnh việc sử dụng phương pháp
tranh biện; phương pháp nghiên cứu hồ sơ tình huống; Phương pháp đóng vai (diễn
án theo hồ sơ thực tế); Phương pháp làm việc nhóm; Phương pháp trải nghiệm thực
tế; các phương pháp khác phù hợp với chương trình đào tạo,…Thông qua các hoạt
động này, sinh viên sẽ chủ động tìm kiếm văn bản pháp luật, nghiên cứu tài liệu,
trao đổi học thuật và đưa ra quan điểm pháp lý của mình. Quá trình đó góp phần
hình thành tư duy pháp lý, kỹ năng nghiên cứu và năng lực tự học.
Đối với các
học phần về kỹ năng và pháp luật tố tụng áp dụng hợp lí phương pháp tranh biện;
nghiên cứu
hồ sơ
tình huống; đóng vai, thực hành diễn án,
nghiên cứu
bản án...
Rèn
luyện cho sinh viên phương pháp tự học, kỹ năng đọc tài liệu, kỹ năng tự
nghiên cứu, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm
việc nhóm, kỹ năng khai thác thông tin...
Đối với các học phần thực hành: Hướng dẫn thực hành trên lớp (ngay khi học lí
thuyết; chia nhóm sinh viên nghiên cứu hồ sơ vụ án, sau đó cho sinh viên diễn án
và giảng viên chính là thẩm phán có kinh nghiệm xét xử tại các Toà án địa phương
sẽ nhận xét, góp ý).
Đối với thực tập: Hướng dẫn quy trình thực tập cho sinh viên trước khi đi thực
tập nghề nghiệp tại Toà án địa phương. Sau đó giới thiệu sinh viên về các Toà
thực tập, có sự hướng dẫn, giám sát của giảng viên.
Đối với khoá luận tốt nghiệp: Phân công giáo viên hướng dẫn khoá luận tốt nghiệp
đối với những sinh viên có đủ điều kiện làm khoá luận. Hướng dẫn sinh viên vận
dụng các kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp vào nghiên cứu và thực hiện
khoá luận. Giáo viên giám sát, đôn đốc sinh viên để đảm bảo chất lượng khoá luận
và đảm bảo tiến độ tốt nghiệp.
Ngoài hình thức giảng dạy trực tiếp, học phần có thể tổ chức kết hợp với giảng
dạy trực tuyến thông qua nền tảng Microsoft Teams phải đảm bảo quy chế đào tạo
của Học viện. Quá trình giảng dạy sử dụng các phương tiện và công cụ hỗ trợ như
bài trình chiếu PowerPoint, video, phóng sự và các học liệu số nhằm tăng tính
trực quan, nâng cao hiệu quả tiếp thu và khuyến khích sự tham gia tích cực của
người học.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá cũng cần được quan tâm.
Các hình thức đánh giá nên chú trọng quá trình học tập, khả năng tự nghiên cứu,
kỹ năng phân tích và giải quyết tình huống thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ
kiến thức. Đây là cơ sở để khuyến khích sinh viên học tập chủ động và đáp ứng
yêu cầu của PLO7 về tổ chức học tập độc lập, tự định hướng và tự chịu trách
nhiệm.
3.2. Tăng cường hướng dẫn phương pháp tự học cho sinh viên
Hiện nay, nhiều sinh viên chưa được trang bị đầy đủ phương pháp tự học ngay từ
năm học đầu tiên. Vì vậy, Học viện cần xây dựng các chương trình bồi dưỡng hoặc
chuyên đề về kỹ năng tự học ở đại học, kỹ năng quản lý thời gian, phương pháp
đọc tài liệu pháp luật, kỹ năng nghiên cứu khoa học và phương pháp khai thác học
liệu điện tử.
Giảng viên và cố vấn học tập cần đóng vai trò định hướng, giúp sinh viên xây
dựng kế hoạch học tập theo từng học kỳ, xác định mục tiêu học tập và lựa chọn
phương pháp học phù hợp với từng học phần. Đồng thời, cần hướng dẫn sinh viên kỹ
năng tự đánh giá kết quả học tập, nhận diện những hạn chế của bản thân để điều
chỉnh phương pháp học tập một cách hiệu quả.
Việc hình thành thói quen tự học ngay từ năm thứ nhất sẽ giúp sinh viên phát
triển năng lực học tập suốt đời và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo theo
chuẩn đầu ra.
3.3. Phát huy hiệu quả của chuyển đổi số trong hỗ trợ hoạt động tự học
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trên đà phát triển, việc ứng dụng công nghệ
vào hoạt động học tập là xu hướng tất yếu. Học viện cần triển khai hệ thống thư
viện số, học liệu điện tử, cơ sở dữ liệu pháp luật, ngân hàng bản án, án lệ và
các nguồn tài liệu trực tuyến để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tự nghiên
cứu.
Song song với việc đầu tư hạ tầng, cần tăng cường hướng dẫn sinh viên kỹ năng
khai thác thông tin trên các cơ sở dữ liệu pháp luật, sử dụng hiệu quả các phần
mềm quản lý tài liệu, công cụ tìm kiếm học thuật và các nền tảng học tập trực
tuyến. Đây là điều kiện quan trọng để sinh viên đạt được PLO9 về khai thác, xử
lý và sử dụng công nghệ số phục vụ học tập và nghề nghiệp.
Bên cạnh đó, việc sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo, trợ lý nghiên cứu hoặc
các phần mềm hỗ trợ học tập cần được định hướng theo nguyên tắc hỗ trợ chứ không
thay thế tư duy của người học. Sinh viên cần được hướng dẫn cách đặt câu hỏi,
kiểm chứng thông tin, đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành và trích dẫn
nguồn đầy đủ nhằm bảo đảm tính chính xác và liêm chính học thuật.
3.4. Xây dựng môi trường học thuật tích cực và thúc đẩy văn hóa tự học
Môi trường học tập có ảnh hưởng lớn đến động lực và hiệu quả tự học của sinh
viên. Vì vậy, Học viện cần phát huy vai trò của các câu lạc bộ học thuật, thúc
đẩy sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và các diễn đàn trao đổi chuyên môn
để tạo cơ hội cho sinh viên học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng
nghề nghiệp.
Các hoạt động như hội thảo khoa học sinh viên, cuộc thi nghiên cứu khoa học,
phiên tòa giả định, cuộc thi hùng biện pháp luật hoặc cuộc thi tìm hiểu pháp
luật cần được tổ chức thường xuyên. Thông qua những hoạt động này, sinh viên
không chỉ củng cố kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng phản biện và khả năng tự nghiên cứu.
Ngoài ra, cần xây dựng văn hóa học tập tích cực trong toàn Học viện, khuyến
khích tinh thần chủ động, sáng tạo, trung thực trong học tập và nghiên cứu, coi
tự học là trách nhiệm của mỗi sinh viên chứ không chỉ là yêu cầu của chương
trình đào tạo.
3.5. Nâng cao ý thức tự học và trách nhiệm của sinh viên
Bên cạnh sự hỗ trợ từ Học viện và đội ngũ giảng viên, sinh viên là nhân tố có ý
nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học. Việc hình
thành ý thức tự học, tinh thần chủ động và trách nhiệm trong học tập là điều
kiện tiên quyết để người học phát triển năng lực chuyên môn và năng lực nghề
nghiệp. Đối với sinh viên Học viện Tòa án, tự học không chỉ là phương thức hoàn
thành các yêu cầu của chương trình đào tạo mà còn là yêu cầu tất yếu của quá
trình chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp. Điều này xuất
phát từ đặc thù của nghề luật, vốn đòi hỏi người hành nghề phải thường xuyên cập
nhật các quy định pháp luật mới, nghiên cứu án lệ, phân tích thực tiễn xét xử và
thích ứng với sự phát triển không ngừng của hệ thống pháp luật và đời sống xã
hội.
Sinh viên cần chủ động xây dựng kế hoạch học tập theo từng ngày, từng tuần, từng
học phần; phân bổ thời gian hợp lý giữa việc học trên lớp, tự nghiên cứu và ôn
tập. Bên cạnh việc đọc giáo trình, tài liệu tham khảo, sinh viên nên thường
xuyên khai thác các nguồn học liệu chính thống như Cổng thông tin điện tử của
Tòa án nhân dân tối cao, Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, hệ thống án lệ và các
tạp chí chuyên ngành luật. Đồng thời, cần tích cực tham gia các phiên tòa giả
định, các cuộc thi học thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên, câu lạc
bộ pháp luật, các buổi tọa đàm chuyên đề và chương trình kiến tập, thực tập tại
Tòa án hoặc các cơ quan tư pháp để gắn kiến thức lý luận với thực tiễn nghề
nghiệp.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, sinh viên cần sử dụng hiệu quả các nền tảng học
tập trực tuyến, thư viện số và các công cụ trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ tìm kiếm
tài liệu, hệ thống hóa kiến thức và phát triển kỹ năng nghiên cứu. Tuy nhiên,
việc sử dụng các công cụ này phải bảo đảm tính trung thực trong học tập, tuân
thủ đạo đức học thuật, không sao chép hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung do
AI tạo ra, đồng thời tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và trích dẫn nguồn tài liệu
theo đúng quy định.
Việc nâng cao ý thức tự học và rèn luyện kỹ năng tự học sẽ giúp sinh viên Học
viện Tòa án hình thành tư duy pháp lý, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách
nhiệm, khả năng tự chủ và năng lực học tập suốt đời. Đây cũng là nền tảng quan
trọng để đạt được các chuẩn đầu ra
PLO10 và PLO11 trong
chương trình đào tạo của Học viện Tòa án.
Kết luận
Kỹ năng tự học là một trong những năng lực cốt lõi của sinh viên trong giáo dục
đại học nói chung và đối với sinh viên Học viện Tòa án nói riêng. Hiện nay,
chuyển đổi số và xây dựng đội ngũ cán bộ pháp luật có chất lượng cao được đặt
lên hàng đầu, việc hình thành năng lực tự học không chỉ giúp sinh viên tiếp thu
kiến thức trong quá trình đào tạo mà còn tạo nền tảng để sinh viên học tập suốt
đời, phát triển nghề nghiệp và thích ứng với sự thay đổi của môi trường pháp lý.
Bên cạnh đó, kỹ năng tự học có mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện các chuẩn
đầu ra của chương trình đào tạo cử nhân Luật, đặc biệt là các chuẩn đầu ra về tổ
chức học tập độc lập, ứng dụng công nghệ số, tự chủ và trách nhiệm nghề nghiệp.
Mặc dù sinh viên Học viện Tòa án đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt
động tự học, vẫn còn tồn tại những hạn chế về phương pháp học tập, khả năng khai
thác học liệu số và tính chủ động trong nghiên cứu. Để nâng cao kỹ năng tự học,
cần thực hiện đồng bộ các giải pháp từ đổi mới phương pháp dạy và học tập, phát
huy hiệu quả của chuyển đổi số, xây dựng môi trường học thuật tích cực đến nâng
cao ý thức tự học của mỗi sinh viên. Việc triển khai hiệu quả các giải pháp này
sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện Tòa án, bảo đảm người học
đạt được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và đáp ứng yêu cầu xây dựng nền
tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
1.
Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH ngày 10/12/2025;
2.
Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực pháp luật trình độ đại học (ban hành theo
Quyết định số 678/QĐ-BGDĐT ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
đào tạo);
3.
Chương trình đào tạo đại học hệ chính quy ngành Luật theo hệ thống tín chỉ (ban
hành theo Quyết định số 322/QĐ-HVTA ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Giám đốc Học
viện Tòa án);
4.
Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Quá trình dạy – tự học, NXB Giáo dục;
5.
Nguyễn Kỳ: “Bàn về vấn đề tự học ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 7,
năm 1998;
6.
Vũ Thị Thu Hương, Năng lực tự học và tính sẵn sàng học tập suốt đời của sinh
viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục: Nghiên cứu điển hình tại
phân hiệu trường đại học Thủy Lợi,
Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam,
Tập 22, Số 01 (năm 2026).