Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Khánh Linh*
Nguyễn Khánh Linh
Tóm
tắt:
Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng
để
phát triển đất nước. Người
sở hữu quyền
sử dụng đất
thực hiện các quyền và nghĩa
hợp pháp
được
Nhà nước công nhận và pháp luật bảo hộ.
Trong thực tiễn, Nhà nước sẽ tiến hành thu
hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích an ninh, quốc phòng, phát
triển kinh tế - xã hội,
vì lợi ích quốc gia,
dân tộc.
Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật bồi thường
khi
nhà nước thu hồi đất ở vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế
và đề xuất
một số
giải pháp để
hoàn thiện vấn đề này
trong thời gian tới.
Từ khóa:
Pháp luật, bồi thường, nhà nước, thu hồi đất,
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thu hồi đất là vấn đề pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
của những chủ thể có đất bị thu hồi, họ không chỉ bị mất quyền sử dụng đất mà
còn phải di dời chỗ ở, thay đổi địa điểm kinh doanh... Do đó, yêu cầu đặt ra là
chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vừa phải đảm
bảo tính thực tiễn, vừa phải có tính khoa học để quyền lợi của người sử dụng đất
được đảm bảo. Sau
nhiều năm
thực hiện, các quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2013 dần xuất hiện những bất cập, không
đảm bảo quyền lợi của các chủ thể có liên quan, chẳng hạn như giá đất làm căn cứ
tính tiền bồi thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường, vấn đề tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất chưa được quan tâm đúng mức... Vì những hạn chế trên mà
cần thiết phải xem xét sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chính sách
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, hướng đến việc đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có đất bị thu hồi.
1. Cơ sở lý luận về pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
1.1.
Cơ sở của việc Nhà nước thu hồi đất
Về cơ
sở pháp lý,
Điều 12 LĐĐ năm 2024 khẳng định quan điểm: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Sự xác lập hình thức sở hữu nhà nước chính là phương thức thực hiện
quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai. Với tư cách chủ sở hữu đại diện, Nhà
nước thực hiện các hoạt động quản lý đất đai.
Chính vì vậy, Nhà nước thực hiện thu hồi đất nhằm các mục đích đảm bảo quốc
phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội hoặc vì những mục đích khác phục vụ
nhân dân.
Về bản chất, quyền sử dụng đất mà các cá nhân, tổ chức Việt Nam hiện nay phải
nắm giữ nếu muốn tiếp cận, khai thác, sử dụng trên một thửa đất, là quyền do Nhà
nước trao cho họ bằng phương thức giao, cho thuê hoặc công nhận. Việc Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng không có nghĩa là Nhà nước hoàn toàn
mất đi quyền này mà chỉ cho phép người sử dụng đất có quyền khai thác, sử dụng
đất trong phạm vi trao quyền đã được giới hạn về không gian và thời gian nhất
định.
Về
cơ
sở thực tiễn,
đất
đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của dân tộc ta, là hiện thân của chủ
quyền, của lãnh thổ quốc gia, là tư liệu sản xuất không gì có thể thay thế được,
là nguồn nội lực để phát triển đất nước. Việc thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cần thiết.
Quá
trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.
Do đó, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật
nhằm cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân. Điều này dẫn đến việc Nhà nước
phải thu hồi đất đang sử dụng để chuyển sang mục đích khác. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra cần phải giải quyết đó là việc thu hồi đất phải được tính toán một cách
khoa học và dựa trên cơ sở quy hoạch; đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế
với ổn định xã hội, giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ với bảo đảm an ninh
lương thực quốc gia và sự phát triển bền vững đất nước.
1.2.
Bồi
thường và hỗ trợ cho người sử dụng đất
Về
bồi
thường cho người sử dụng
đất,
khi
Nhà nước thu hồi đất mà không phải do vi phạm các quy định của
Luật Đất đai (LĐĐ)
thì phải bồi thường
do
người sử dụng đất phải chịu những thiệt hại, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến
cuộc sống hiện tại. Vì vậy, việc Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất của người
sử dụng là việc làm phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai và phù hợp với
thực tiễn cuộc sống.
Trước đây, LĐĐ năm 1987 sử dụng thuật ngữ “đền
bù”
cho
những thiệt hại do hoạt động của một chủ thể gây ra. Khái niệm “đền bù” xuất
hiện từ LĐĐ năm 1987 và LĐĐ năm 1993. Từ khi LĐĐ năm
1993 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thống nhất cụm từ “bồi thường”
thay cho “đền bù” và “đền bù thiệt hại”. Hiện nay, LĐĐ năm 2024 và các văn bản
hướng dẫn không còn sử dụng khái niệm đền bù, mà thay vào đó là các khái niệm
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Theo LĐĐ năm 2024, tại
Khoản
5
Điều 3
quy định: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất
của
diện tích đất thu hồi cho người
có
đất
thu hồi”.
Còn vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được quy định thành một
chương riêng đó là chương VII của LĐĐ năm 2024. Như vậy, “Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên
đất do hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất theo quy định của
LĐĐ
để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng, phát triển kinh tế - xã hội”.
Về hỗ
trợ cho người sử dụng đất,
dưới góc độ ngôn ngữ thì hỗ trợ là sự trợ giúp, giú