Định hướng phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Toà án
TS
TS. Nguyễn Văn Nghĩa, Giảng viên Học viện Toà án
Các
kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân loại đã bước sang cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư và những vấn đề mới gồm cả cơ hội và thách thức của cuộc cách
mạng công nghiệp này đang tác động trực tiếp đến hầu hết các lĩnh vực của đời
sống kinh tế xã hội. Khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ
đã thúc đẩy cách thức con người tư duy, làm ra sản phẩm, lưu thông sản phẩm cũng
như tính chất pháp lý liên quan đến quá trình sản xuất, cung ứng và tiêu thụ sản
phẩm. Bên cạnh mặt tích cực là nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ giúp con
người giải phóng sức lao động, sản phẩm lao động làm ra nhanh hơn, nhiều hơn,
tinh xảo hơn, thì bên cạnh đó nhiều tính năng nổi trội của khoa học công nghệ
chưa kịp thời ứng dụng trong các lĩnh vực hoạt động của ngành Toà án, trong công
tác xét xử; trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH). Tất cả những sự
thay đổi chóng mặt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đối với hoạt động
của ngành Toà án, đồng thời đặt ra yêu cầu đối với Học viện Toà án (HVTA), trong
đó có yêu cầu của hoạt động NCKH nói chung, NCKH sinh viên nói riêng.
Hoạt
động NCKH của sinh viên HVTA nằm trong phạm vi NCKH của HVTA, mà hoạt động NCKH
của HVTA lại cơ bản phụ thuộc vào định hướng NCKH của TANDTC. Trên cơ sở nguyên
tắc và logic đó, hoạt động NCKH của sinh viên HVTA vừa phải trên cơ sở định
hướng phát triển NCKH của HVTA và của TANDTC. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu
của chuyên đề này, chúng tôi sẽ nêu và phân tích nội dung hoạt động NCKH của
sinh viên HVTA xoay quanh ba định hướng lớn về NCKH
trong thời gian tới, đó là: (1) Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu khoa học của
HVTA; (2) Tiếp tục nghiên cứu giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được xác
định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam trong thời gian tới; (3) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật
về nội dung và tố tụng; nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ việc,
góp phần thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của TAND, cụ thể:
1.
Bám sát mục tiêu hoạt động nghiên cứu khoa học của Học
viện Toà án
1.1.
Định hướng mục tiêu nghiên cứu khoa học theo quy định của Bộ Giáo dục và của Học
viện
Toà
án
HVTA
là cơ sở đào tạo đại học hệ công lập nên hoạt động NCKH của Học viện phải phù
hợp với quy định của Chính phủ tại Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022
của Chính phủ về hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học.
Theo đó, cần phải phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ bao gồm tiềm lực về
nhân lực khoa học và công nghệ, tài sản trí tuệ, cơ sở vật chất, thông tin và
nguồn tài chính thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ. Hoạt động khoa
học và công nghệ của HVTA là hoạt động NCKH, nghiên cứu và triển khai thực
nghiệm, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và
các hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ gắn kết với
đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Trong đó, cần chú trọng hoạt động đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra, ứng
dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý của HVTA để
nâng cao năng suất, chất lượng, gia tăng giá trị của sản phẩm, hàng hóa, góp
phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài
ra, định hướng NCKH của sinh viên HVTA phải bám sát mục tiêu NCKH. Tiếp đó, mục
tiêu NCKH của HVTA phải phù hợp với mục tiêu chung về NCKH được đặt ra đối với
cơ sở giáo dục đại học và mục tiêu NCKH của TANDTC. Mục tiêu NCKH của sinh viên
HVTA phải trên cơ sở mục tiêu chung về NCKH đã được nêu ra tại Thông tư số
26/2021/TT-BGDĐT ngày 17/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về
hoạt động NCKH của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học, đó là:
-
Hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên; góp phần
phát hiện và bồi dưỡng các nhà khoa học trẻ tài năng, đáp ứng yêu cầu đào tạo
nhân lực trình độ cao.
- Tạo
môi trường thuận lợi để hỗ trợ sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học
nhằm hình thành các ý tưởng, dự án khởi nghiệp góp phần tạo cơ hội việc làm cho
sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Từ
những mục tiêu về NCKH đặt ra đối với sinh viên nói chung nêu trên có thể thấy
mục tiêu NCKH của sinh viên HVTA là hình thành và phát triển năng lực NCKH pháp
lý cho sinh viên, phát hiện và phát triển những sinh viên có tiềm năng NCKH đáp
ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực tư pháp, nguồn nhân lực pháp luật chất
lượng cao. Ngoài ra, định hướng mục tiêu của hoạt động NCKH sinh viên HVTA là
tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ sinh viên tham gia các hoạt động NCKH pháp lý
nhằm đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong hoạt động của ngành Toà án,
đồng thời liên kết gắn bó, phát triển các dự kiến, kế hoạch khởi nghiệp nhằm tạo
cơ hội việc làm cho sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp. Ví dụ, những sinh viên có
năng lực và niềm đam mê NCKH pháp lý có thể đăng ký dự tuyển vào các đơn vị,
chức năng NCKH pháp lý tại các cơ quan, đơn vị của TAND, HVTA hoặc các cơ quan
của Bộ Tư pháp như Viện Chiến lược và Nghiên cứu khoa học pháp lý.
Ngoài
định hướng mục tiêu chung về NCKH nêu trên, NCKH của sinh viên phải phù hợp với
mục tiêu đẩy mạnh hoạt động NCKH của HVTA, bao gồm:
-
Phát động các phong trào thi đua NCKH cho sinh viên trong toàn HVTA; đưa thành
tích NCKH vào một trong các tiêu chí đánh giá, xếp
loại, thi đua, khen thưởng sinh viên, nhất là trong công tác xét kết nạp đảng,
xét làm luận văn tốt nghiệp; đặc biệt, thành tích NCKH là một cơ sở đánh giá mức
độ hoàn thành khóa học và cộng điểm vào kết quả học tập theo quy chế của Học
viện;
-
Phát triển NCKH theo cả hai hướng hàn lâm và ứng dụng. Các nghiên cứu hàn lâm
chủ yếu phục vụ hoàn thiện về lý luận và đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
trong nước, quốc tế trong khi các nghiên cứu ứng dụng chủ yếu hướng tới giải
quyết các vấn đề thực tiễn về thực trạng bất cập của pháp luật và trong công tác
xét xử của Tòa án. Đẩy mạnh NCKH theo định hướng ứng dụng nhằm góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án;
- Xây
dựng cơ chế, chính sách để thu hút các nhà khoa học danh tiếng ở ngoài Học viện
và nước ngoài về làm việc và hợp tác với Học viện, đặc biệt là trong công tác
đánh giá, nghiệm thu kết quả NCKH của sinh viên nhằm bảo đảm tính khách quan, vô
tư trong hoạt động NCKH;
- Xây
dựng chính sách khuyến khích sinh viên có các công bố quốc tế, tạo điều kiện
thuận lợi để sinh viên tham gia hội nghị, hội thảo, tìm kiếm cơ hội du học, hợp
tác NCKH với các đối tác nước ngoài;
-
Định hướng thành lập các nhóm sinh viên nòng cốt có năng lực, thành tích trong
NCKH và cơ sở vật chất để tham gia thực hiện các đề tài NCKH cấp Học viện và cấp
cao hơn;
- Mở
rộng hợp tác về NCKH có sự tham gia của sinh viên HVTA với các cơ sở đào tạo
trong và ngoài nước;
- Xây
dựng trường phái nghiên cứu của HVTA thông qua đội ngũ cán bộ nghiên cứu đầu
ngành, có đủ năng lực phản ứng trước những vấn đề quan trọng trong cải cách tư
pháp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập của đất nước cũng
như đi đầu trong các hướng NCKH mới, trong đó có sự lựa chọn tham gia những sinh
viên xuất sắc trong hoạt động NCKH;
-
Tăng cường hoạt động NCKH gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho
hệ thống Tòa án; những sinh viên có thành tích tốt trong hoạt động NCKH sẽ được
xem xét tạo điều kiện phát triển để ứng dụng những kết quả nghiên cứu đó với các
cơ quan TAND;
- Xây
dựng cơ chế tự chủ về NCKH, tăng kinh phí chi NCKH cho từng năm, trong đó nghiên
cứu đề xuất cấp kinh phí ở mức phù hợp nhằm khuyến khích đối với các đề tài NCKH
của sinh viên; đồng thời nghiên cứu đề xuất tăng mức tiền thưởng đối với các đề
tài NCKH sinh viên đạt giải.
1.2.
Phù hợp với định hướng thực hiện chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn
2021-2030
Báo
cáo tổng kết nghiên cứu xây dựng khung chiến lược phát triển giáo dục đào tạo
Việt Nam giai đoạn 2021-2030 thuộc Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc
gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục”
đã
xác định tầm nhìn giai đoạn 2021-2030, đó là: Xây dựng nền giáo dục Việt Nam
hiện đại, kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn
minh nhân loại, xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc. Giáo dục Việt Nam đạt
trình độ tiên tiến của khu vực vào năm 2030 và đạt trình độ tiên tiến của thế
giới vào năm 2045. Với mục tiêu tổng quát, đó là: Phát triển con người Việt Nam
toàn diện, phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo lập
thế hệ người Việt Nam mới sống lương thiện, giàu khát vọng, có đầy đủ phẩm chất,
trí tuệ, tài năng, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện thành
công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn
vinh và hạnh phúc. Xây dựng hệ thống giáo dục mở, công bằng và bình đẳng, phục
vụ học tập suốt đời, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa
và hội nhập quốc tế.
Trên
tinh thần đó, Báo cáo tổng kết nghiên cứu xây dựng khung
chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam giai đoạn 2021-2030 thuộc Chương
trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát
triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục”
đã
nêu ra một trong những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản về phát triển giáo dục, đó là
“Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, ứng dụng chuyển giao gắn liền
với đào tạo”. Phát triển NCKH của sinh viên HVTA nói riêng, NCKH của HVTA nói
chung cũng phải trên cơ sở phù hợp với nhiệm vụ chiến lược về NCKH của ngành
giáo dục đặt ra, đó là:
- Tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng NCKH trong các cơ sở giáo dục, nhất là cơ
sở giáo dục đại học, chú trọng gắn kết giữa đào tạo và NCKH, đặc biệt là đào tạo
sau đại học.
- Xây
dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định
hướng nghiên cứu, các cơ sở đào tạo chất lượng cao.
- Xây
dựng các chương trình nghiên cứu liên ngành, tập hợp các chuyên gia trong một số
cơ sở giáo dục đại học để giải quyết các vấn đề trọng tâm của ngành.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường thực hiện thủ tục hành chính qua dịch
vụ công trực tuyến và bộ phận một cửa, một cửa liên thông; thực hiện các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác; công khai, minh bạch các hoạt động của Tòa
án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi giải quyết công việc tại Tòa án,
góp phần xây dựng hình ảnh Tòa án thân thiện, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học
dân, là chỗ dựa cho nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân. Triển khai thống nhất, đồng bộ và có hiệu quả Thông tư số
01/2022/TT-TANDTC ngày 15/12/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định
việc phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền của
Tòa án.
Có thể khẳng định rằng, chủ trương triển khai phiên toà trực tuyến là một trong
những giải pháp vừa phù hợp với xu thế phát triển và ứng dụng công nghệ thông
tin trong lĩnh vực tư pháp trên thế giới vừa trực tiếp rút ngắn thời gian xét xử
của Toà án. Quan điểm từ những người hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực xét xử
cũng đã chứng minh điều đó. Ví dụ, theo ông Nguyễn Tất Thắng, Chánh án Tòa án
nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên cho biết: “Trung bình mỗi năm, TAND
huyện phải thụ lý giải quyết trên 300 vụ án các loại. Với số lượng án nhiều như
vậy, đội ngũ cán bộ, thẩm phán gặp không ít khó khăn, áp lực về công việc. Sự ra
đời của Nghị quyết 33/2021/QH15 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến đã
tạo cơ sở pháp lý để tòa án các địa phương đẩy nhanh tiến độ giải quyết án, đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động xét xử. Thực hiện Thông tư
liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 của Toà án
NDTC, Viện kiểm sát NDTC, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên Tòa trực tuyến, TAND huyện đã chủ động
phối hợp với các cơ quan liên quan cũng như phối hợp với VNPT Võ Nhai để tổ chức
phiên tòa trực tuyến. Trong điều kiện Tòa án chưa được cấp kinh phí, trang thiết
bị phục vụ cho việc xét xử trực tuyến, VNPT Võ Nhai đã hỗ trợ Tòa án về kỹ
thuật, thiết bị giúp việc xét xử trực tuyến hiệu quả. Phiên tòa xét xử trực
tuyến không ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, mà còn giúp cho tòa án giải quyết
tình trạng hoãn các phiên tòa do vắng mặt bị cáo và nhiều người tham gia tố tụng
vì nhiều lý do khách quan như lâu nay. Ngoài ra, việc xét xử trực tuyến còn đảm
bảo an ninh trật tự, an toàn cho người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng, đảm bảo việc lưu trữ, bảo quản hồ sơ vụ án, giảm thiểu chi phí, thời gian,
giúp đẩy nhanh tiến độ giải quyết các loại án".
Thực tiễn nêu trên đã đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo các chức danh
tư pháp trong Tòa án mà trước tiên là nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật
tại HVTA phục vụ cho các kỳ thi tuyển quốc gia để lựa chọn Thẩm phán, công chức
có chức danh tư pháp; Có cơ chế, giải pháp để động viên, khuyến khích sinh viên
HVTA đam mê NCKH để tạo nguồn nhân lực tư pháp trẻ kế cận có đủ năng lực, trình
độ; Xây dựng Đề án phát triển giảng viên theo hướng lựa chọn những thủ khoa,
những sinh viên có thành tích NCKH xuất sắc, học viên xuất sắc để đào tạo trở
thành giảng viên.
Có thể nói, yêu cầu chuyển đổi số trong ngành Toà án và xây dựng Toà án điện tử
ở Việt Nam đang là nhu cầu tất yếu phù hợp với xu thế phát triển của Toà án các
nước trên thế giới trong bối cảnh ứng dụng mạnh mẽ thành quả của cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0. Chuyển đổi số và Toà án điện tử đặt ra nhiều thách thức đối với
ngành Toà án như nguồn nhân lực Toà án đáp ứng yêu cầu về trình độ công nghệ
thông tin để giải quyết các vụ án trên nền tảng số vừa thông thạo cách thức vận
hành trang thiết bị công nghệ mới vừa thông hiểu luật pháp; hệ thống trang thiết
bị công nghệ hiện đại được trang bị cho các cơ quan Toà án; hệ thống phòng xét
xử với công nghệ hiện đại; khả năng truy cập, tra cứu thông tin văn bản pháp lý
nhanh chóng, kịp thời để ra phán quyết kp thời, đúng đắn, chính xác; … Tất cả
những thách thức to lớn này chỉ có thể từng bước được đáp ứng nếu nguồn nhân lực
Toà án được đào tạo trong môi trường giáo dục tiên tiến và đã có trải nghiệm với
những kết quả NCKH có chất lượng. Trong đó, HVTA là cơ sở đào tạo công lập của
Nhà nước trực thuộc TANDTC vừa giữ vai trò là cơ sở bảo đảm chất lượng nguồn đào
tạo Thẩm phán, các chức danh ngành Toà án, vừa đảm trách vai trò đào tạo nguồn
cử nhân luật chất lượng cao chủ yếu phục vụ ngành Toà án sau khi tốt nghiệp. Vì
vậy, việc đẩy mạnh hoạt động NCKH tại HVTA về những tác động, yêu cầu của cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 đến hiệu quả chất lượng công tác xét xử sẽ giữ một
trong những vai trò quyết định đến thực hiện thành công chiến lược chuyển đổi số
trong ngành Toà án và xây dựng Toà án điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Định hướng nghiên cứu khoa học sinh viên Học viện Toà án hướng tới giải quyết
các vấn đề pháp lý mới về tội phạm mạng và chứng cứ điện tử
3.1. Nghiên cứu khoa học sinh viên theo định hướng nghiên cứu các khía cạnh pháp
lý của các loại hình tội phạm công nghệ mới
Hoạt động NCKH của sinh viên HVTA cần phải hướng tới đề xuất giải quyết các vấn
đề mới phát sinh từ thực tiễn tổ chức, hoạt động của ngành TAND và gắn với các
môn pháp luật chuyên ngành. Một trong những vấn đề mới nổi, đó là theo đánh giá
của PGS. TS. Nguyễn Hoà Bình,
hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có những thay đổi nhanh
chóng, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức trong việc thực hiện các mục tiêu
về cải cách tư pháp. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số đang tạo ra
những biến chuyển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế xã hội. Các vi phạm pháp luật,
tội phạm và tranh chấp diễn biến ngày càng phức tạp; xuất hiện thêm nhiều phương
thức phạm tội mới, tội phạm mới, nhất là tội phạm công nghệ thông tin, tội phạm
phi truyền thống; trong đó tội phạm mạng và chứng cứ điện tử là những thách thức
lớn đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, đối với ngành Toà án
nói riêng đã đặt ra câu hỏi lớn đối với hoạt động NCKH cần phải nghiên cứu để
tìm ra cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và đề xuất giải pháp có tính khả thi.
Khái niệm tội phạm mạng đã được quy định tại khoản 7 Điều 2 Luật An ninh mạng
2018. Theo đó, tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông
tin hoặc phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm được quy định tại Bộ luật
hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Biểu hiện của tội phạm mạng rất đa
dạng, nổi lên là các hoạt động như:
(i) Sử dụng không gian mạng tuyên truyền pháp hoại tư tưởng, kích động biểu
tình, bạo loạn, ví dụ, sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, kích động tụ tập
đông người, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ,
đập pháp trụ sở cơ quan nhà nước…;
(ii) Tin tặc sử dụng các loại virus, phần mềm gián điệp, mã độc để tấn công, xâm
nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu, website của các cơ quan, doanh nghiệp để thu
thập dữ liệu, tống tiền có xu hướng gia tăng. Việt Nam bị xếp vào nhóm các quốc
gia có nguy cơ bị tấn công mạng nhiều nhất, có tỉ lệ nhiễm mã độc cao, nhiều hơn
gấp đôi so với mức trung bình của thế giới (21%), ví dụ, trong vụ tấn công của
mã độc “XXX”, Việt Nam có hơn 1.900 máy tính bị lây nhiễm mã độc. Hiên có khoảng
150 nhóm tin tặc thường xuyên tấn công mạng vào Việt Nam, trên 600 trang web đặt
tại Việt Nam bị lợi dụng để tấn công lừa đảo.
Cùng với phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì tội phạm công nghệ
mới (tội phạm mạng) đang tăng rất nhanh cả về quy mô số lượng và tính chất phức
tạp, khó khăn của nó, trong khi số lượng biên chế, nguồn nhân lực ngành Toà án
và cơ sở vật chất thì cơ bản cố định, nội dung, chương trình đào tạo cơ bản chưa
có nhiều thay đổi đột biến; thậm chí biên chế còn bị cắt giảm do phải thực hiện
chính sách tinh giản biên chế. Điều này đặt ra thách thức đột xuất và áp lực to
lớn thường xuyên đối với ngành Toà án cả về tiến độ giải quyết án, chất lượng
xét xử, yêu cầu thẩm phán phải có năng lực, trình độ và am hiểu công nghệ thì
mới có thể giải quyết được những vụ án về tội phạm mạng phức tạp. Do đó, thúc
đẩy hoạt động NCKH tại HVTA nói chung, NCKH sinh viên HVTA nói riêng để đào tạo
ra các cử nhân luật am hiểu về công nghệ - người vừa vững vàng về chuyên môn,
nghiệp vụ pháp luật vừa am hiểu các thuật ngữ, các kiến thức cơ bản về công nghệ
thông tin và truyền thông để xét xử các loại tội phạm công nghệ nói chung hoặc
tội phạm mạng nói riêng là một trong những giải pháp hữu hiệu cho ngành Toà án
trước thách thức tội phạm mạng đang ngày càng gia tăng và phức tạp hiện nay. Về
lâu dài, HVTA cần chú trọng công tác NCKH sinh viên có hệ thống, chương trình,
kế hoạch lâu dài nhằm đào tạo các thế hệ cử nhân luật có khả năng NCKH và ứng
dụng kết quả NCKH vào thực tiễn hoạt động xét xử để bổ sung cần thiết cho đội
ngũ thẩm phán đang hạn chế nhiều về công nghệ đặc biệt là tội phạm công nghệ mới
phát triển với quy mô và tính chất ngày càng tinh vi và phức tạp.
Hiện nay, Việt Nam đã có một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề
tội phạm mạng như Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, Nghị quyết số
30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Bộ
luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật an ninh mạng, Nghị định số
25/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 của Chính phủ quy định về phòng chống tội phạm và
vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao… Mặc dù vậy, đây mới là những
văn bản đã được ban hành trước đây, các loại hình tội phạm mạng với số lượng,
quy mô lớn và tính chất đặc biệt phức tạp lại mới xuất hiện trong vài năm gần
đây khi có sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin 4.0.
Trong khi đó, đội ngũ thẩm phán, cán bộ ngành Toà án, những người được giao xét
xử, giải quyết những vụ việc đặc biệt lớn, phức tạp lại là những người đã có
kinh nghiệm công tác lâu năm, được đào tạo từ hơn hàng chục năm trước đây khi mà
trong chương trình đào tạo đại học pháp luật chưa quy định hoặc thực tiễn cũng
chưa phát sinh loại tội phạm mạng đó. Do đó, hiện nay, khi phải đối mặt với các
loại tội phạm mới với số lượng, quy mô lớn, phức tạp, khó khăn như trên là thách
thức không nhỏ đối với ngành Toà án. Khó khăn, thách thức là có có thật, đã,
đang và sẽ xảy ra với mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Trong khi đó, hệ
thống các văn bản luật chuyên ngành chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung; hệ thống
giáo trình, tài liệu giảng dạy lại phụ thuộc vào các quy định pháp luật lại càng
lạc hậu hơn. Sự thay đổi của các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan cần
phải có cơ sở khoa học, mà cơ sở khoa học khả thi và tin cậy chỉ có dựa vào các
công trình, kết quả NCKH từ các đề tài NCKH. Đây là sân chơi trí tuệ vô cùng
rộng lớn, thu hút sự vào cuộc của các nhà khoa học, nhà quản lý trong các lĩnh
vực pháp luật. Nhà quản lý có ưu điểm là có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy
nhiên, hạn chế về thời gian đầu tư cho nghiên cứu khoa học, trong khi đó, sinh
viên mặc dù có hạn chế về trải nghiệm, kinh nghiệm thực tiễn nhưng lại có cả bầu
nhiệt huyết to lớn cùng với lượng thời gian dồi dào có thể là sự bổ quyết cần
thiết thông qua việc tham gia cộng tác hoặc thành lập các nhóm NCKH sinh viên.
Bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng cũng đã và đang đặt ra những yêu
cầu mới về tổ chức và hoạt động của hệ thống TAND. Trong quá trình hội nhập quốc
tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp, tội phạm xuyên quốc gia…
Ngoài những vụ việc có tính chất phổ biến như hiện nay thì ngày càng xuất hiện
những vụ việc có tính chất phức tạp trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực
tranh chấp thương mại quốc tế … mà nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do đó, một
trong những vấn đề cấp bách của hệ thống Toà án trong quá trình hội nhập hiện
nay là hệ thống Toà án phải có được nguồn nhân lực đảm nhiệm các chức danh tư
pháp trong hệ thống Toà án, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu giải
quyết các tranh chấp quốc tế, đấu tranh phòng chống các loại tội phạm xuyên quốc
gia, các loại hình tội phạm phi truyền thống … có nền tảng kiến thức khoa học
góp phần ổn định và phát triển đất nước. Để thực hiện được nhiệm vụ này thì hệ
thống Toà án cần xây dựng được chiến lược tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng các
chức danh tư pháp, đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán theo hướng chuyên sâu trong
từng lĩnh vực, trong đó, đặc biệt là quan tâm đến chất lượng, năng lực NCKH của
thẩm phán ngay từ khi họ còn là sinh viên. Có như vậy mới bảo đảm tính chuyên
môn hoá nghề nghiệp, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc của hệ thống Toà
án.
3.2. Nghiên cứu khoa học sinh viên theo định hướng giải quyết các vấn đềpháp lý
mới về chứng cứ điện tử
Một trong những vấn đề khá mới và phức tạp đối với khoa học pháp lý nói chung,
đối với ngành Toà án nói riêng đó là chứng cứ điện tử (đặc biệt là đối với tội
phạm xuyên biên giới). Đây cũng là vấn đề pháp lý mới được đặt ra trong quá
trình học tập các học phần luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự và luật tố
tụng hành chính trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại HVTA. Chứng cứ điện
tử được hiểu là một dạng chứng cứ trong tố tụng, luôn được hình thành hoặc gắn
với nguồn dữ liệu điện tử, đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính khách quan, liên
quan, hợp pháp. Pháp luật hiện hành quy định về chứng cứ điện tử thông qua
các quy định của tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính với các
chế định có liên quan, ví dụ:
Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS năm 2015)
không sử dụng thuật ngữ “chứng cứ điện tử” mà chỉ có những quy định về chứng cứ
và nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử. Theo đó, chứng cứ được xác định là:
“Những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định,
được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực
hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết
vụ án”. Khoản 1 điều 87 BLTTHS năm 2015 quy định dữ liệu điện tử được xác
định là một trong bảy nguồn chứng cứ.
Dữ liệu điện tử
là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra,
lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được
thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường
truyền và các nguồn điện tử khác (Điều 99 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, các ký
hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự mà con người có
thể nhận biết được thông qua các thiết bị, phương tiện điện tử, phần mềm thích
hợp khi có con người biết sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử và phần mềm
trong kỹ thuật số bởi nó tồn tại dưới dạng điện tử, dạng kỹ thuật số được định
dạng, lưu trữ trong các thiết bị tương ứng với các đơn vị nhớ Bít (Bits), Bai
(Bytes), các sóng điện từ, hạt điện tử… mà ở trạng thái tự nhiên con người không
thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc nhận biết những dữ liệu trong các thiết bị chứa
đựng nó. Ví dụ: Với một thẻ nhớ, bằng trực quan chúng ta không thể thấy được
hình ảnh, âm thanh, ký tự…; nhưng khi lắp vào máy tính, sử dụng phần mềm thích
hợp do người có khả năng sử dụng thiết bị, phương tiện điện tử và phần mềm để
đọc thẻ nhớ thì chúng ta có thể thấy, nhận biết được các âm thanh, hình ảnh, ký
tự… hoặc nếu chỉ cần một trong ba yếu tố thì không được sử dụng phần mềm thích
hợp, không có thiết bị và phương tiện điện tử thích hợp hay không có người có
khả năng sử dụng thiết bị, phương tiện và phần mềm sẽ không thể thấy, nhận biết
được các thông điệp của thông tin là chữ viết, chữ số, ký hiệu, âm thanh, hình
ảnh hoặc dạng tương tự. Bộ luật TTHS 2015 cũng quy định tại phiên toà, trường
hợp cần thiết, toà án quyết định hỏi người làm chứng qua mạng máy tính, mạng
viễn thông (khoản 5 Điều 311).
Tại khoản 3 Điều 99 BLTTHS năm 2015 quy định: “Giá trị chứng cứ của dữ liệu
điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ
liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử;
cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác”. Tiêu chí xác
định giá trị của chứng cứ như vậy sẽ khiến những người sử dụng chứng cứ rất khó
đánh giá bởi không thể biết được đâu là chứng cứ có giá trị cao, thấp hay ngang
bằng nhau khi so sánh giá trị với nhau để sử dụng tranh tụng, buộc tội, gỡ tội
hay kết tội hoặc làm căn cứ để đưa ra các quyết định, xử sự, hành vi tố tụng
khác. Do đó, giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử có điều kiện tiên quyết là
phải hợp pháp, nếu thông tin không hợp pháp thì không được coi là chứng cứ.
Ngoài ra, để xác định chứng cứ này có giá trị trong giải quyết vụ việc, vụ án
hơn chứng cứ kia thì phải xem xét, đánh giá dựa vào tiêu chí khách quan, liên
quan thông qua cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách
thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định
người khởi tạo và các yếu tố khác. Nếu thông tin càng khách quan, càng liên quan
thì càng có giá trị và ngược lại, thông tin ít khách quan, ít liên quan hơn thì
có giá trị ít hơn trong chứng minh tội phạm, giải quyết vụ án hình sự.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 thì chứng cứ được
hiểu là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao
nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được
theo trình tự, thủ tục mà BLTTDS quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để
xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Tương tự như BLTTDS, Luật tố tụng hành chính năm 2015 cũng quy định chứng cứ là
những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất
trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình
tự, thủ tục do Luật tố tụng hành chính quy định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để
xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Cũng giống như tố tụng hình sự, “những gì có thật” trong tố tụng dân sự, tố tụng
hành chính chính là những tình tiết, yếu tố phản ánh đúng với bản chất của sự
kiện pháp lý dân sự hay hành chính đã xảy ra như nó vốn có mà đang được các chủ
thể tố tụng đưa ra xem xét hay nói một cách khác, đây chính là những thông tin
về sự kiện pháp lý dân sự hay hành chính được phản ánh, thu thập lại giúp cho
chủ thể tố tụng sử dụng để bảo vệ quan điểm của mình, bác bỏ quan điểm của chủ
thể khác hay làm cơ sở để đưa ra những quyết định, hành vi tố tụng phù hợp với
quy định của pháp luật tại thời điểm xem xét, giải quyết vụ việc, vụ án dân sự,
hành chính.
Nếu như BLTTHS năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “chứng cứ điện tử”, thì BLTTDS
năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm 2015 lại sử dụng thuật ngữ “chứng cứ
điện tử” duy nhất một lần tại khoản 3 Điều 95 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 82
Luật tố tụng hành chính năm 2015 với ý nghĩa là một trong bảy hình thức thể hiện
của “thông điệp dữ liệu điện tử” nhưng không có quy định nào đưa ra khái niệm
“chứng cứ điện tử”? Đồng thời, BLTTDS năm 2015 và Luật tố tụng hành chính năm
2015 đều quy định dữ liệu điện tử là một trong các nguồn chứng cứ có thể khai
thác các chứng cứ sử dụng trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Khoản 3 Điều 95 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 82 Luật tố tụng hành chính năm
2015 quy định “thông điệp dữ liệu điện tử” được thể hiện dưới hình thức trao đổi
dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các
hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Tuy
nhiên, BLTTDS và Luật tố tụng hành chính đều không đưa ra khái niệm thế nào là
“dữ liệu điện tử” như BLTTHS năm 2015 nhưng lại đưa ra khái niệm khi có sự trao
đổi dữ liệu điện tử thì sẽ hình thành một dạng thông điệp điện tử bên cạnh các
dạng khác là chứng cứ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình
thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Quy định
như trên vẫn có những điểm còn khó hiểu bởi “dữ liệu điện tử” là nguồn chứng cứ
mà việc trao đổi dữ liệu điện tử hình thành nên “thông điệp điện tử” và “chứng
cứ điện tử” lại là một trong các dạng của thông điệp điện tử. Trong khi “chứng
cứ điện tử” thì chỉ có thể khai thác được từ các nguồn dữ liệu điện tử và thư
điện tử, điện tín… cũng là một hình thức thể hiện của dữ liệu điện tử khi được
trao đổi giữa các phương tiện và thiết bị điện tử.
Ngoài ra, cũng liên quan đến lĩnh vực xét xử tội phạm công nghệ, trong các loại
nguồn chứng cứ thì dữ liệu điện tử được coi là lĩnh vực khó khăn nhất khi thu
thập và đánh giá. Điều này đặt ra cho cơ quan Toà án phải có những kiến thức
nhất định về dữ liệu điện tử mới có thể đánh giá được những chứng cứ thu được
tại nguồn chứng cứ này. Ví dụ, quy định mới của Luật Giao dịch điện tử năm 2023
đã quy định thông điệp dữ liệu có giá trị dùng làm chứng cứ, cụ thể thông điệp
dữ liệu được dùng làm chứng cứ theo quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp
luật về tố tụng. Giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định
căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp
dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách
thức xác định người khởi tạo, gửi, nhận thông điệp dữ liệu và các yếu tố phù hợp
khác (Điều 11).
Do đó, nên chăng việc xây dựng Học viện Toà án thông minh mà một trong những đặc
điểm của cơ sở đào tạo đại học thông minh là tính linh hoạt và đào tạo theo xu
hướng cá nhân hoá nhu cầu và mục đích học tập, trong đó nhu cầu kiến thức về dữ
liệu điện tử là yêu cầu khách quan để thẩm phán có thể xét xử chính xác đúng
người, đúng tội đối với các loại tội phạm này. Việc bổ sung vào chương trình đào
tạo kiến thức về công nghệ 4.0, dữ liệu điện tử, chứng cứ điện tử là yêu cầu tất
yếu khách quan trong lộ trình nghiên cứu, xây dựng Học viện Toà án thông minh
trong thời gian tới.
Những khó khăn nêu trên của ngành Toà án trong việc đánh giá chứng cứ điện tử
đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng Học viện Toà án thông minh với yêu cầu sinh
viên tốt nghiệp ra trường phải được đào tạo chuyên sâu về chứng cứ điện tử, phân
tích dữ liệu điện tử, phương pháp thu thập chứng cứ điện tử và biết đánh giá
chứng cứ điện tử. Một trong những đặc điểm của cơ sở đào tạo đại học thông minh
là tính kết nối rộng rãi trong không gian mạng internet; cơ sở dữ liệu lớn (big
data) chứa đựng nguồn thông tin rất lớn của các cá nhân, tổ chức, trong đó có
thể có nguồn chứng cứ; phương pháp tiếp cận, xác minh thông tin nhanh chóng,
hiệu quả. Được đào tạo và trưởng thành trong môi trường giáo dục thông minh sẽ
giúp sinh viên được trang bị kiến thức bổ ích về công nghệ nói chung, về dữ liệu
điện tử nói riêng giúp ích cho công tác thực tiễn xét xử sau này.
Những vấn đề mới phát sinh liên quan đến tội phạm mạng và những vấn đề còn nhiều
mâu thuẫn, chồng chéo nêu trên về chứng cứ điện tử tại các luật chuyên ngành vừa
là cơ hội để đối tượng lợi dụng thực hiện các hành vi tội phạm mà khó bị phát
hiện hoặc nếu phát hiện thì cũng khó xét xử một cách nghiêm khắc. Để giúp sinh
viên hiểu sâu hơn, từ đó nâng cao chất lượng học tập của sinh viên đối với các
môn pháp luật chuyên ngành thì một trong các giải pháp đó là sinh viên phải cùng
tham gia các hoạt động NCKH để cùng phát hiện những hạn chế bất cập của pháp
luật, đề xuất những giải pháp hoàn thiện. Hình thức thực hiện thông qua các đề
tài NCKH sinh viên trong đó đề xuất giải pháp hữu ích, cung cấp cơ sở khoa học
giúp cho các nhà lập pháp nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật. Đó
là một trong những định hướng về hoạt động NCKH của sinh viên HVTA trong thời
gian tới, gắn với những vấn đề pháp lý mới như tội phạm mạng và chứng cứ điện
tử.
4.
Nghiên cứu khoa học sinh viên gắn với các định hướng nghiên cứu, hoàn thiện quy
định pháp luật về nội dung và tố tụng, nâng cao chất lượng xét xử các loại vụ
việc, góp phần thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân
Một trong những nội dung quan trọng mà Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền XHCM Việt Nam trong giai đoạn mới đã đặt ra đó là: “áp dụng hiệu quả
thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn” để hướng tới xây dựng chế định tố tụng tư pháp
lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ,
công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và
bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Dưới góc độ NCKH của sinh viên, hoạt động NCKH của sinh viên HVTA cũng cần hướng
tới các định hướng thay đổi trong tổ chức, hoạt động của ngành TAND. Những định
hướng đó cũng không phải xa vời mà nó gắn bó rất chặt chẽ với sinh viên thông
qua việc nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các môn pháp luật chuyên ngành về nội
dung và tố tụng thuộc chương trình đào tạo cử nhân luật, ví dụ:
Một là, nghiên cứu đề xuất rút ngắn thời gian tố tụng
- Thời hạn tố tụng dân sự:
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn tố tụng dân sự là
một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên
quan thực hiện hành vi, quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự. Thời hạn xét xử 01 vụ án dân sự được tính kể từ thời điểm Tòa án có
thẩm quyền thụ lý vụ án chứ không tính từ thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi
kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết vụ án vụ án. Việc xác định
thời hạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và
những người liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các
chủ thể này, từ đó làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Ngoài ra, việc xác định thời hạn tố
tụng còn có ý nghĩa xác định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong
trường hợp các chủ thể này không thực hiện hoặc thực hiện không đứng nghĩa vụ và
quyền hạn của họ trong thời hạn tố tụng cụ thể. Việc thực hiện đúng quy định về
thời hạn tố tụng còn góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên đương
sự, ngược lại, vi phạm thời hạn tố tụng có nguy cơ ảnh hưởng tới các quyền và
lợi ích chính đáng của các bên đương sự.
Các loại thời hạn tố tụng gồm có: thời hạn giao nộp chứng cứ; thời hạn xem xét
đơn khởi kiện; chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm; thời
hạn kháng cáo, kháng nghị theo bản án, quyết định của tòa án; thời hạn cấp, tống
đạt và thông báo các văn bản tố tụng; thời hạn khiếu nại; giải quyết khiếu nại
trong tố tụng dân sự… Để bảo đảm được việc giải quyết các vụ án dân sự, các thời
hạn tố tụng nói chung đều được pháp luật quy định cụ thể. Ngoài ra, thời hạn
cũng được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ấn định trong
khuôn khổ quy định của pháp luật tố tụng khi cần thiết như thời hạn giao nộp
chứng cứ, thời hạn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện…
-
Thời hạn tố tụng hình sự:
Đối
với lĩnh vực tố tụng vụ án hình sự, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự được quy định tại Điều 277 BLTTHS năm 2015 như sau: “Trong thời hạn ba
mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm
nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân
công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây: Đưa vụ án ra
xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án”. “Trong
thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án
phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở
phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày”.
-
Thời hạn tố tụng hành chính:
Đối
với tố tụng hành chính, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, trừ
vụ án xét xử theo thủ tụ rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện
danh sách cử tri được quy định tại Điều 130 LTTHC năm 2015 như sau:
“04
tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp đó là quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc.”
“02
tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp đó là quyết định giải quyết
khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.”
“Đối
với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết
định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần nhưng không quá 02 tháng đối với
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”
Những
tồn tại, hạn chế, vướng mắc phát sinh liên quan đến các quy định về thời hạn tố
tụng được học tại các môn pháp luật tố tụng chuyên ngành có thể dẫn đến kéo dài
thời gian xét xử có thể kể đến như:
-
Bất cập về mô hình tổ chức của hệ thống Toà án nhân dân hiện nay có thể làm kéo
dài thời gian xét xử:
Hiện
nay, ở nước ta, hệ thống Toà án nhân dân được tổ chức theo tiêu chí địa giới
hành chính và tiêu chí chức năng xét xử và có bốn cấp, theo đó, hệ thống Toà án
nhân dân gồm: Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân
dân cấp cao, Toà án nhân dân tối cao. Bên cạnh những ưu điểm như làm tăng uy lực
cho chính quyền các cấp địa phương, huy động sự tham gia của các tổ chức trong
hệ thống chính trị tham gia vào công tác xét xử của Toà án, tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân khi đến Toà án, thì mô hình này cũng bộc lộ hạn chế đó là tạo
cơ hội để các cơ quan Đảng và chính quyền địa phương có thể can thiệp vào công
việc xét xử của Toà án dẫn đến kéo dài thời gian xét xử của Toà án do có sự ngộ
nhận của một bộ phận cán bộ và người dân cho rằng hệ thống Toà án giống như một
bộ, các Toà án địa phương giống như những cơ quan chức năng của Uỷ ban nhân dân
các cấp. Điều này không những hạ thấp địa vị pháp lý của Toà án nhân dân, gây
khó khăn cho việc xử lý, giải quyết các vấn đề về tổ chức và hoạt động của Toà
án mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử của Toà án,
nhất là trong việc giải quyết các vụ án hành chính, khi một bên trong vụ án là
cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.
-
Bất cập trong các quy định của pháp luật về trường hợp Toà án thu thập chứng cứ
có thể dẫn đến kéo dài thời gian xét xử:
Khoản 2 Điều 97 Bộ luật TTDS 2015 quy định Toà án có thể tiến hành một trong
chín biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ, gồm: (i) Lấy lời khai của đương
sự, người làm chứng; (ii) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với
người làm chứng; (iii) Trưng cầu giám định; (iv) Định giá tài sản; (v) Xem xét,
thẩm định tại chỗ; (vi) Uỷ thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; (vii) Yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được
hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; (viii) Xác minh
sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; (ix) Các biện pháp khác
theo quy định của Bộ luật TTDS 2015.
Trong
số 9 biện pháp thu thập chứng cứ nêu trên thì các biện pháp như lấy lời khai của
đương sự, người làm chứng; trưng cp>
- Đẩy
mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và thành lập doanh nghiệp, doanh
nghiệp ứng dụng chuyển giao kết quả NCKH trong các cơ sở giáo dục đại học.
- Đổi
mới phương thức, nâng cao hiệu quả đầu tư cho NCKH và chuyển giao công nghệ
trong các cơ sở giáo dục đại học;
-
Khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên
cứu.
-
Phát triển NCKH giáo dục và khoa học quản lý giáo dục; tập trung đầu tư nâng cao
năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan NCKH giáo dục quốc gia.
Việc
phát triển hoạt động NCKH của sinh viên HVTA phải trên cơ sở cụ thể hoá các định
hướng NCKH chung nên trên, trên cơ sở phù hợp với đặc thù, yêu cầu chương trình
đào tạo cử nhân luật tại HVTA.
2.
Nghiên cứu khoa học sinh viên phục vụ định hướng ứng dụng chuyển đổi số nhằm xây
dựng Học viện Toà án thông minh
Một trong 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Báo cáo tổng kết nghiên cứu xây dựng
khung chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam giai đoạn 2021-2030 thuộc
Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên
cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục”
đã nêu ra đó là “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tăng cường chuyển đổi số trong
giáo dục”.